Một viên ngọc “lưu ly” văn hóa!
Cái “cổng tam quan” của ngôi làng chèo cổ Việt có ba cửa, cửa chính giữa là bi, hai cửa phụ hai bên là hài, một dân gian, một bác học. Cuộc đời buồn của người phụ nữ thời xưa là cảm hứng chủ đạo để dân gian xây dựng những hình tượng nhân vật chính là nữ giới: Thị Kính, Thị Mầu (Quan Âm Thị Kính), Xúy Vân (Kim Nham), Thị Phương (Trương Viên), Đào Huế (Chu Mãi Thần), Châu Long (Lưu Bình Dương Lễ)… Vì vậy chất bi trong chèo cổ thường đậm hơn chất hài.
Bắt nguồn từ cuộc sống lao động của người nông dân xưa, chèo là một hình thức nghệ thuật mang đậm hơi thở đời sống với những mâu thuẫn giai cấp gay gắt, căng thẳng. Các vai chính (chính diện, là người tốt, lương thiện) và vai lệch (phản diện, gian ác, xấu xa) là biểu hiện của quan niệm dân gian về hiện thực xã hội ấy.
Để chống lại thứ lễ giáo hà khắc, chống lại sự áp bức, bóc lột, người nông dân không có thứ vũ khí nào khác ngoài tiếng cười. Ở ngoài xã hội, người phụ nữ hầu như bị tước hết quyền làm chủ, cam chịu làm tôi tớ nô lệ hay phận lẽ mọn tỳ thiếp. Nhưng bước vào thế giới tiếng cười họ liền đảo ngược lại vị thế, trở thành nhân vật chính.
Là một trong 7 vở chèo cổ kinh điển, mang tính tiêu biểu, chuẩn mực, là mẫu cho các vở và các làn điệu chèo sau này, nhìn từ hôm nay, vở Trương Viên lấp lánh tỏa ra những ánh sáng ý nghĩa hiện đại. Có lẽ dựa trên văn bản truyện Nôm “Trương Viên truyện”, dân gian đã “sân khấu hóa” thành vở chèo (!?). Tình huống, cốt truyện, nhân vật… ở hai bản truyện và chèo gần như trùng khít nhau.
Theo GS Kiều Thu Hoạch, bản truyện đang lưu hành có từ đầu thời Nguyễn (giữa thế kỷ XIX). Bản phiên âm của Nguyễn Ngọc Xuân, in lần 2, 1919, có 562 câu lục bát và 1 bài song thất lục bát 58 câu.
Tấm gương hiếu hạnh, tiết nghĩa
Học trò Trương Viên cưới Thị Phương, con gái Lưu Tể tướng đã hồi hưu. Tể tướng cho con gái của “hồi môn” là đôi ngọc lưu ly - vật “gia bảo”, nhưng tế nhị đưa con rể làm vật “tùy thân”. Đang dùi mài kinh sử thì đất nước gặp họa binh đao bởi giặc giã xâm lăng, vâng chiếu vua, Trương Viên từ biệt mẹ già, vợ trẻ ra chiến trường. Chàng dặn vợ đưa mẹ về quê lánh nạn. Trên đường đi vô cùng vất vả, cực khổ, người con dâu hiếu thảo nhịn đói nhường cơm cho mẹ; phải tế cho hung thần cặp mắt để cứu mẹ. Nàng còn “Nuôi mẹ chồng, cắt thịt cánh tay”.
May mắn được Ngọc Hoàng sai Chúa Tiên xuống dạy “nghề đàn hát kiếm ăn qua ngày”. Tính đến ngày “đoàn viên”, Thị Phương cùng mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Dân gian có câu: “Tiết nghĩa ai bằng nàng Thị Phương/ Thờ chồng nuôi mẹ vẹn đôi đường”, tức coi Thị Phương là điển hình cho đạo lý hiếu nghĩa người Việt. Hai mẹ con lưu lạc trong rừng sâu, gặp quỷ đòi hút máu. Lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Nhưng tấm lòng của Thị Phương đã làm “cảm động” đến cả “quỷ dữ”, đến cả loài “hổ báo”.
Hai mẹ con được tha mạng. Rồi đói khát. Thị Phương đã dâng miếng thịt nơi cánh tay để cứu mẹ chồng. Chưa đủ, nàng tình nguyện hiến đôi mắt mình cho Sơn Thần làm thuốc chữa cho mẹ. Với con người ta, thân thể, thịt da, máu huyết là quý nhất. Thị Phương đã dâng cái quý giá nhất để cứu mẹ. “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”. Thị Phương hiến đôi mắt, chịu mù để mẹ được khỏe mạnh, lành lặn. Về riêng chữ “Hiếu”, còn ai hơn Thị Phương?
Nhờ đâu Thị Phương có được đức hạnh ấy?
Hình tượng “đôi ngọc lưu ly” là một chìa khóa mở ra “mã” nội dung tác phẩm. Trong Phật giáo, ngọc lưu ly là một trong bảy vật báu (thất bảo), gắn với cõi “Đông phương Lưu Ly” của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, biểu tượng cho trí tuệ thanh tịnh và thế giới giác ngộ. Ngọc lưu ly có tác dụng thanh lọc tâm trí, trừ phiền não, tăng trí tuệ, bình an nội tâm.
Như vậy, của “hồi môn” này mang ý nghĩa biểu tượng tinh thần hơn là ý nghĩa vật chất. Cho con vật “gia bảo”, cha mẹ nàng như nhắn nhủ rằng, con đi lấy chồng, hãy “sáng” như ngọc lưu ly. Thế là, chỉ qua một chi tiết, dân gian đã gửi gắm triết lý: con cái là tấm gương của gia đình. “Giỏ nhà ai, quai nhà nấy”. Muốn con “nên người”, cha mẹ phải xứng đáng là “người” trước. Đến lượt con cái phải kế thừa truyền thống nếp gia phong tốt đẹp.
Xin nói thêm về Tể tướng. Đã từng có địa vị, quyền hành “ngang thiên hạ”, nhưng sẵn lòng gả con gái yêu cho người học trò nghèo, mồ côi học giỏi và có chí, Lưu Tể tướng đã có một tinh thần “dân chủ”, “tiến bộ” hơn cả thời nay. Ông cũng là người biết nhận ra và trân trọng tài năng. Đó là một “hình mẫu” về “con người văn hóa” vượt qua thời đại để đến với hiện đại.
Phần cuối vở chèo có hai câu: “Giời chung, giời chẳng riêng ai/ Vun trồng cây đức ắt đài nền nhân” là một “giáo huấn” cần thiết. “Cây đức” có cội nguồn từ điển tích “chặt cây”: ba anh em Điền Chân đời Hán muốn phân chia gia tài tổ tiên để lại. Họ bàn nhau chặt đi cây xanh cổ thụ ở sân, chia ba phần làm củi. Chưa chặt, cây xanh tự khô mà chết.
Nghĩ lại, thấy cây còn biết “nghĩ” hơn người, họ không chia gia tài nữa, cây tự nhiên sống xanh trở lại. Đó là bài học: nếu anh em chia rẽ, không quý trọng truyền thống tổ tiên, phúc đức cũng tiêu tán. Từ đó, “cây đức” được hiểu là biểu tượng cho sự kế thừa truyền thống (gia đình/tổ tiên) sẽ gây dựng được nền phúc đức, nhân nghĩa bền vững (ắt đài nền nhân).
Tố cáo, lên án chiến tranh - sứ mệnh cao cả của nghệ thuật
Vì chiến tranh giặc giã mà tổ ấm gia đình Trương Viên – Thị Phương đang ngập tràn hạnh phúc bị tan vỡ. Thời nào cũng vậy, gia đình luôn thiêng liêng. Vì đó là cái nôi đầu đời, là điểm tựa của mỗi người trong đời sống. Gia đình chính là không gian ấn tượng sâu sắc nhất, để rồi sau này trở thành một thứ tài sản tinh thần đi suốt cuộc đời. Tác phẩm không hề có âm thanh của gươm đao cùng không gian chiến trường đầy sát khí, nhưng người đọc vẫn hình dung ra sự vô nhân, tàn bạo của nó: phá hoại hạnh phúc giản dị và thiêng liêng.
Ngọc Hoàng hay biểu tượng của minh triết dân gian, của đạo lý, tình người, thương tình cho Chúa Tiên xuống dạy nàng nghề đàn hát kiếm ăn. Nàng trở thành nghệ sỹ của tiếng lòng đau khổ. Ở màn “Trần tình gặp gỡ” có đoạn hội thoại sâu sắc ý nghĩa: “Trương Viên:- Con ra bảo bà ấy có sự tình, tình sự gì thì hát cho ông tôi nghe. Mụ:- Tôi chỉ biết sự tình nhà tôi thôi. Lính Hầu:- Ừ, bà biết hát sự tình nhà bà”.
Trương Viên chỉ thích nghe hát về “sự tình, tình sự”. “Mụ” chỉ biết được “sự tình” nhà mình. Lính hầu cũng đồng tình. “Sự tình” là câu chuyện của gia đình mình, của bản thân, tức hiểu biết rõ nhất, trong đó có nỗi đau, có niềm vui thật nhất của mình. Bật ra một quan niệm đáng suy ngẫm về “sáng tạo” và “tiếp nhận” nghệ thuật: phải là những gì quen thuộc nhất, hiểu nhất, đồng cảm sâu sắc nhất. Chỉ nhờ thế mới có thể chia sẻ được.
“Trần tình” là giãi bày, kể ra sự tình. Giọng hát Thị Phương hay tiếng lòng bi kịch, nức nở, xót xa: “Bởi vì đâu binh lửa tơi bời…/ Một mình tôi nuôi mẹ truân chuyên…”. Tiếng hát hướng về Trương Viên, xa ngái, một chút trách móc, một chút dỗi hờn: “Sự tình này trời đất có thấu hay/… Chàng Trương Viên có biết nông nỗi này hay chăng?”.
Thì ra, ngoài là sự gắn nối, gắn kết, nghệ thuật còn là phương tiện để con người “nhận ra nhau”. Cũng là nhận ra chân lý, sự thật, tấm lòng. Đấy là con đường đi của “sáng tạo”: bắt đầu từ sự thấu hiểu để thấu cảm, tìm kiếm sự cảm thông để đồng cảm, tìm ra hình thức truyền cảm để thuyết phục, chinh phục lòng người. Họ nhận ra nhau trong vỡ òa mừng tủi, đoàn viên.
Giá trị gia đình, tình nghĩa và hạnh phúc
Vở kịch kết thúc theo đúng nguyên lý “có hậu” của truyện Nôm: “Thị Phương: - Quả lòng trời đưa lại/ Ngọc nhảy vào, mắt được phong quang/ Mẹ ơi, giờ con trông được rõ ràng... Mụ: Mẹ mừng con đã yên lành như cũ/ Lại thêm cảnh mẫu tử đoàn viên/ Trời có đâu nỡ phụ người hiền/ Thế mới biết bĩ rồi lại thái”.
Nhờ viên ngọc, đôi mắt của Thị Phương sáng lại như xưa. Hẳn nhiên, viên ngọc cũng mang nghĩa biểu tượng: Viên ngọc tình yêu, viên ngọc đạo hiếu, viên ngọc nghĩa vợ chồng, tình cảm gia đình, sẽ soi sáng cuộc đời, xua đi tất cả mọi tăm tối, khổ đau, vất vả. Muốn hạnh phúc, con người phải được nhìn đời bằng “viên ngọc” ấy!
