Xuân Diệu - Thơ và hoa
Cũng như hầu hết mọi nhà thơ, thi sĩ Xuân Diệu tiếp cận nhiều hiện thực khách quan và chủ quan qua trải nghiệm suốt cuộc đời ông. Riêng tiếng nói về tình yêu - tuổi trẻ - mùa xuân bộc lộ một cá tính thơ riêng biệt, nổi trội mà trước nay, đây đó đã được nhiều bạn đọc, bạn viết, các nhà nghiên cứu, phê bình đề cập, trong đó, Xuân Diệu thơ tình là một "đặc sản" quý hiếm.
1. Năm 2026 là năm kỷ niệm lần thứ 110 năm sinh Xuân Diệu (1916 - 2026), nhà thơ lớn nồng nàn cảm xúc về tình yêu - tuổi trẻ - mùa xuân, khát khao giao cảm, nhập cuộc sâu sắc với cuộc sống riêng - chung cùng số phận của Tổ quốc và nhân dân.
Cũng như hầu hết mọi nhà thơ, thi sĩ Xuân Diệu tiếp cận nhiều hiện thực khách quan và chủ quan qua trải nghiệm suốt cuộc đời ông. Riêng tiếng nói về tình yêu - tuổi trẻ - mùa xuân bộc lộ một cá tính thơ riêng biệt, nổi trội mà trước nay, đây đó đã được nhiều bạn đọc, bạn viết, các nhà nghiên cứu, phê bình đề cập, trong đó, Xuân Diệu thơ tình là một "đặc sản" quý hiếm.
Nhân xuân mới 2026, người viết đề cập riêng thơ về hoa của ông.
2. Trong cuộc đời làm thơ, chắc chắn không một ai lại không viết ít ra là đôi ba bài về hoa, hoặc hình ảnh hoa được đưa vào những thi phẩm nào đó. Đương nhiên, Xuân Diệu cũng viết nhiều bài thơ về hoa. Tôi ngẫu nhiên được đọc một tiểu luận ngắn "Hoa trong thơ Xuân Diệu thời trước 1945" của nhà giáo, nhà phê bình văn học Lê Quang Hưng (Tạp chí Sông Lam, số 6/1994, Xuân Ất Hợi). Ngoài ra, tôi chưa tìm ra một bài khác nói về hoa trong thơ Xuân Diệu.
Lê Quang Hưng cho biết: trong tổng số 95 bài ở hai tập "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" có 53 bài nói đến hoa và trong số ấy thì 19 bài không chỉ nói đến một lần. Theo tôi, cái rất riêng của thơ Xuân Diệu là hình ảnh hoa với hương thơm ngát nhiều khi hòa quyện cùng lúc với tình yêu, tuổi trẻ và mùa xuân, để rồi hoa trở thành biểu tượng thuộc cả vật thể và phi vật thể.
3. Trong phong trào Thơ mới (1932-1945), Xuân Diệu là một trong những nhà thơ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ thơ Pháp, bắt rễ từ trường phái tượng trưng của nền thơ ca Pháp cuối thế kỷ XIX, trong đó Charles Baudelaire (1821-1867) là nhà thơ tiêu biểu mà ông rất mến mộ.
Xuân Diệu hướng tới chủ nghĩa cảm giác (nói chung) và khuynh hướng thơ "tương ứng cảm giác" (nói riêng) từ thơ của Baudelaire. Nhà thơ Pháp nổi tiếng này nhấn mạnh quan niệm "tương ứng giữa các giác quan” và sáng tác thơ trên cơ sở quan niệm ấy.
Theo Nguyễn Lệ Hà, thì trước đó, nhà văn Đức Hoffmann đã từng nói: khi nghe nhạc, tôi tìm thấy sự tương hợp và sự thống nhất nội tại giữa màu sắc, âm thanh và mùi hương" (Tạp chí Văn học, số 10/1994). Bài thơ "Huyền diệu" của Xuân Diệu là nơi tập trung nhất yếu tố "tương ứng cảm giác" đó. (Hãy đọc: Này lắng nghe em khúc nhạc thơm/ Say người như rượu tối tân hôn/ Như hương thắm tận qua xương tủy/ Âm điệu thần tiên thấm tận hồn).
4. Tại bài viết này, tác giả trình bày về mùi hương (hương thơm) của hoa khi thi sĩ Xuân Diệu sáng tạo từ cảm quan khứu giác. Thơ hoa của Xuân Diệu nghiêng hẳn về mùi hương, trong đó có âm thanh, có nhạc, có sắc màu, ánh sáng: "Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao/ Cây vàng rung nắng, lá xôn xao/ Gió thơm phơ phất lay vô ý/ Đem đụng cành mai sát ánh đào/ Tơ liễu buông xanh quá mỹ miều/ Bên màu hoa mới thắm như kêu/ Nói gì âu yếm qua không khí/ Như thoảng đưa mùi hương mến yêu (tập "Thơ thơ" (1933-1938). Tác giả còn có tập thơ tiếp theo "Gửi hương cho gió", (1936 - 1944) in bài thơ cùng tên (tại đây lược bỏ khổ cuối):
Biết bao hoa đẹp trong rừng thẳm
Đem gửi hương cho gió phũ phàng!
Mất một đời thơm trong kẽ núi
Không người du tử đến nhằm hang!
Hoa ngỡ đem hương gửi gió kiều
Là truyền tin thắm gợi tình yêu
Song le hoa đợi càng thêm tủi
Gió mặc hồn hương nhạt với chiều.
Tản mác phương ngàn lạc gió câm
Dưới rừng hương đẹp chẳng tri âm
Trên rừng hoa đẹp rơi trên đá
Lặng lẽ hoàng hôn phủ bước thầm.
Tình yêu muôn thuở vẫn là hương
Biết mấy lòng thơm mở giữa đường
Dẫu mất tình yêu trong gió rủi
Không người thấu rõ đến nguồn thương!
5. Thơ hoa của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám vẫn còn đậm yếu tố "tương ứng cảm giác" nhưng đã không bó hẹp trong cái tôi cá nhân tại không gian đô thị mà loang rộng ra với cộng đồng nơi thôn quê, nơi những người dân chân thật, làm lụng cần cù trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa thanh bình.
Tại Bắc Kạn, năm 1947, Xuân Diệu viết cả về một loài hoa không có hương, bù lại cho thơ ông "tương ứng cảm giác" theo một hướng khác, đó là cảm giác thơ từ thị giác (màu sắc, ánh sáng), thính giác (âm nhạc): "Phượng trong sáng nảy hồng trên một cõi/ Như muôn đàn cùng gảy dưới mây cao/ Ánh sáng trùm trong không gian vòi vọi (...)// Xanh đã ngủ ở dưới trời yên tĩnh/ Đỏ còn ngân trong tiếng nói dịu dàng" (bài "Phượng mười năm", tập "Riêng chung").
Đến năm 1960, thi sĩ lại tiếp tục hành trình cùng mùi hương không bao giờ cũ của ông: "Tôi cầm mùi dạ lan hương/ Trong tay đi đến người thương cách trùng/ Dạ hương thơm nức lạ lùng/ Tưởng như đi mãi chưa cùng mùi hương" (bài "Dạ hương", tập "Riêng chung").
Nếu chỉ nói về hương thì trái cây lá cây, rễ cây cũng có hương thơm, vậy là nhà thơ đã đi qua hoa để đến quả trong tình yêu của tuổi trẻ. Năm 1979, Xuân Diệu viết: "Mỗi lần mùa thu tới/ Tôi yêu mùi vỏ cam/ còn xanh dưới tay bóc/ Như thế lại càng thơm/ Ôi ruột vàng đã ngọt/ Mà vỏ chưa vội vàng/ Hăng trẻ rực vào mũi/ Một lần như sóng hương/ Ôi tuổi trẻ của tôi/ Mượn đường về phảng phất.../ Như những buổi thu đầu/ Say tình yêu thứ nhất" (bài "Trái cam xanh vỏ", tập "Thanh ca").
Đến năm 1961, Xuân Diệu có hai bài thơ lan tỏa hương thơm của hoa, ra đời cách thi phẩm "Gửi hương cho gió" hai mươi lăm năm. Thi sĩ đợi người yêu đến như đón mong một làn hương quý. "Từ khi hoa nở những chùm xinh/ Trong ý thương yêu đã để dành/ Nghĩ đón em về, hoa độ nở/ Vì em, hương động cả mi thanh// Mấy ngày đông ấm giục hoa sinh/ Đêm đến tin hương, bỗng giật mình! Như sóng ngạt ngào từng đợt một/ Dạ lan kì ảo thấm năm canh// Muốn cầm hương quý, đợi em anh/ Anh cất hoa hương giữa ái tình/ Muôn dặm hương triều thơm tự biển. Em về thơ lại giữa hồn anh (bài "Hoa nở sớm”, tập "Mũi Cà Mau" với "Cầm tay").
Và, vượt thoát khỏi tình yêu riêng tư, thi sĩ được thưởng ngoạn mùi thơm của hoa quả cây lá "Vườn Thuận Vi" (Thái Bình), đúng là "không gian vườn" như nhà phê bình Lý Hoài Thu nhận định: "Canh khuya chợt thức nghe hoa ngát/ Giấc ngủ như là đã ướp hương" (tập thơ "Một khối hồng").
6. Ngoài nhóm thơ về hương của hoa, giữa thiên nhiên và lòng người rộng mở, trong nhiều trăm bài thơ tình hay của Xuân Diệu, cũng có nhiều bài làm khi vượt thoát yếu tố “tương ứng cảm giác", không nói đến hương thơm nữa. Hoa "anh ơi” là một thi phẩm giàu mỹ cảm, trẻ trung, tha thiết yêu thương như một lời hát, được thi sĩ viết ngày 17/6/1972. Nguyên văn bài thơ:
Hoa này là hoa "anh ơi"
Là hoa một buổi đẹp trời, ta đi
Nắm tay trò chuyện thầm thì
Bỗng nhiên em thốt: "Hoa gì? Anh ơi!"
Cây thanh một tán lá cười
Một vầng hoa nở hồng tươi một vùng
Sắc đào như thể rung rung
Toàn cây là một nỗi lòng nở hoa
Anh tìm tên mãi không ra
Phải anh đào? Hoặc như là ô môi?
Biết bao âu yếm trong lời
Thốt kêu hai tiếng từ nơi ruột rà
Từ nay xin đặt tên hoa
"Hoa anh ơi"
một chiều ta
nở đầy.
7. Trong quyển "Xuân Diệu - Về tác giả và tác phẩm" (nhiều tác giả, NXB Giáo dục, 2001) có liệt kê 152 tiểu luận nhưng không có bài thơ nào đề cập thơ hoa - hương của Xuân Diệu. Bài viết này mong được xem là cần thiết, nhưng chỉ là một đóng góp nhỏ nhoi, sơ lược.
Hướng đến tình yêu lứa đôi, tình yêu cuộc sống, tình yêu đất trời hoa lá thiên nhiên của nước nhà tươi đẹp, hồn thơ Xuân Diệu mãi mãi say mê và trẻ trung.
Riêng hoa - hương của thi sĩ là biểu tượng cặp đôi để lại cho đời sau vẻ đẹp thuần khiết của đời sống mà tác giả đã nhuần thấm, trải nghiệm khi sáng tạo nghệ thuật. Nhà nghiên cứu - phê bình Vũ Ngọc Phan đã nói rất đúng rằng: Thơ Xuân Diệu là “minh chứa muôn hướng của tuổi trẻ”.
