Về thành cổ Đồ Bàn nhớ những tài năng thi ca

Thứ Sáu, 16/01/2026, 10:09

Tôi về lại thành cổ Đồ Bàn trong ngậm ngùi “Đây, những tháp gầy mòn vì mong đợi/ Những đền xưa đổ nát dưới thời gian”, nghe trong xa vắng vang vọng tiếng thơ của Bàn Thành tứ hữu và những nhà thơ gắn bó với xứ “đất võ trời văn” Bình Định. Để rồi mải mê chiều trên Bến My Lăng túy lúy say men rượu Bàu Đá đón trăng lên cùng bạn văn chương, tôi lại thấy chập chờn “Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách/ Ông lái buồn để gió lén mơn râu...”.

Vọng vang tiếng thơ Bàn Thành tứ hữu

Hai tỉnh Phú Yên và Bình Định trước đây gần như là một. Dân gian hay gọi chung xứ Nẫu. Từ phong tục tập quán, cách ứng xử đến giọng nói y chang nhau. Khi đi xa nghe giọng nói, thật khó phân biệt đâu là người Phú Yên và đâu là người Bình Định. Cách xa chỉ gần một trăm cây số nên thời trai trẻ tôi hay từ Phú Yên ra chơi vòng quanh khắp Bình Định, trong đó có thành Đồ Bàn mà thời Tây Sơn gọi là thành Hoàng Đế.

Về thành cổ Đồ Bàn nhớ những tài năng thi ca -0
Cổng thành cổ Đồ Bàn.

Thành cổ Đồ Bàn còn gọi Chà Bàn, Trà Bàn hay Vijaya (tiếng Phạn) có nghĩa thắng lợi. Đây là kinh đô của người Degar thuộc Vương quốc Chăm Pa, do vua Yangpuku Vijaya xây dựng năm 982, cũng là kinh đô cuối cùng của Vương quốc Chăm Pa. Các vua Chăm đóng đô ở đây từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV. Trong năm thế kỷ ấy, kinh đô Vijaya phải gánh chịu nhiều cuộc tấn công từ Đại Việt, Chân Lạp, Xiêm, Nguyên Mông.

Trận đánh diễn ra ngày 24 tháng giêng năm Đinh Tỵ 1377 tại đây, Vua Trần Duệ Tông của Đại Việt bị phục binh tử trận. Đến trận chiến mùa xuân 1471, Vua Lê Thánh Tông đánh chiếm, phá hủy thành Vijaya, bắt vua Trà Toàn của Chiêm Thành. Năm 1778, thủ lĩnh Nguyễn Nhạc của nhà Tây Sơn tự xưng Hoàng đế, đóng đô ở đây nên còn gọi là thành Hoàng Đế, mở rộng về phía đông, xây dựng nhiều công trình lớn. Đến năm 1799, thành bị quân chúa Nguyễn Ánh đánh chiếm đổi tên là thành Bình Định.

Ngày nay, thành Đồ Bàn thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn cách thành phố Quy Nhơn 27km về hướng tây bắc, trở thành một trong những di tích giá trị về nghiên cứu lịch sử quân sự và khảo cổ học. Thành Đồ Bàn cũng là nguồn cảm hứng cho nhà thơ Chế Lan Viên sáng tác nên tập thơ “kinh dị” “Điêu tàn” làm rúng động phong trào Thơ mới đầu thế kỷ XX. Trong bài "Trên đường về", ông có viết:

Đây, những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn
Lừng lững đưa nơi rộn rã tiếng từ quy

Nhà thơ Chế Lan Viên là một trong bốn thành viên của Bàn Thành tứ hữu, một nhóm thơ Bình Định gắn bó với thành Đồ Bàn trong phong trào Thơ mới. Bốn nhà thơ được người đương thời xem là ứng với tứ linh: Long - Hàn Mặc Tử, Lân - Yến Lan, Qui - Quách Tấn và Phụng - Chế Lan Viên. Một cách so sánh thú vị phù hợp với tính cách từng người.

Tồn tại trong gần mười năm (1936-1945), Bàn Thành tứ hữu đã trình làng nhiều tập thơ có giá trị gây tiếng vang như: "Thơ điên" của Hàn Mặc Tử, "Điêu tàn" của Chế Lan Viên, "Bến My Lăng" của Yến Lan, "Mùa cổ điển" của Quách Tấn...

Từ nhóm thơ Bàn Thành tứ hữu, do khuynh hướng sáng tác đã có ba thành viên là Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên hình thành nên Trường thơ Loạn. Và trường thơ độc đáo này còn tiếp nhận thêm các nhà thơ từ khắp nơi cùng tham gia: Bích Khê, Hoàng Diệp, Quỳnh Dao... Riêng nhà thơ Bích Khê, trước đó từ Thu Xà, Quảng Ngãi vì cô đơn đã vào gia nhập cùng bốn bạn thơ Bình Định thành nhóm Ngũ hành, động viên hỗ trợ nhau sáng tác, rồi trở thành gương mặt sáng giá của Trường thơ Loạn.

Sau khi nhà thơ Hàn Mặc Tử bị bệnh phong qua đời khi mới 28 tuổi vào ngày 11/11/1940, chẳng bao lâu sau nhà thơ Bích Khê lâm bệnh lao chuyển nặng. Các bạn thơ Bình Định góp tiền đưa Bích Khê vào ở Xóm Củi, Nha Trang để ở trọ chữa bệnh. Một thời gian sau, vì ngại lòng tốt bạn thơ, nhà thơ Bích Khê đã lặng lẽ bỏ ra đi, nhưng nhà thơ Nguyễn Đình đã tìm lại được. Cả nhóm quyết định đưa Bích Khê ra Huế chữa trị và an dưỡng, với số tiền quyên góp hàng tháng tùy khả năng từng người.

Theo bà Lâm Bích Thủy, trong bài viết "Sự thật về nhóm thơ: Bàn Thành tứ hữu" ghi lại lời kể của cha mình là nhà thơ Yến Lan, “Chú Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ góp 10 đồng, bác Quách Tấn 20 đồng, chú Nguyễn Đình 20 đồng, vì không vướng bận gì nên ba tôi góp 30 đồng. Như vậy mỗi tháng nhà thơ Bích Khê nhận được 80 đồng, theo tôi biết đó là số tiền rất lớn, cơm tháng hồi đó chỉ có 4 đồng. Tất cả việc thu và gửi tiền ra Bệnh viện Paskiê cho chú Bích Khê đều do vợ bác Tấn đảm nhận”.

Trường hợp nhà thơ Xuân Diệu quê ở Gò Bồi, Bình Định thì sao? Cũng theo bà Lâm Bích Thủy, tuy xuất thân và trưởng thành ở đây, nhưng nhà thơ Xuân Diệu ban đầu không tham gia nhóm thơ quê hương. Nhà thơ Quách Tấn từng nói vui: “Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách, từ biệt quê hương để ra Hà Nội bắt tay với Huy Cận lập thành nhóm Huy - Xuân”.

Về sau nhà thơ Xuân Diệu mới từ đất Bắc trở về Bình Định gia nhập vào nhóm Ngũ hành thành nhóm Lục căn (Nhãn - Nhỉ - Tỷ - Thiệt - Thân - Ý). Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử mà nhóm Lục căn cũng như bí danh tương ứng từng người trong nhóm không được nói tới.

Bến Trường Thi dệt “Bến My Lăng”

Về đất võ trời văn Bình Định, ngay sáng sớm đầu tiên chúng tôi lên thăm mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử và vòng quanh khu du lịch Gành Ráng ở Quy Nhơn. Ngôi mộ thi sĩ được xây khang trang trong một không gian nhiều tre trúc như trong thơ ông, thường xuyên có người đến viếng, đặt nhiều hoa. Sau bao thăng trầm, sự nghiệp thi ca của ông đã được trả về đúng giá trị, và tình yêu cuộc đời dành cho thi nhân mãi tươi xanh như hoa lá vây quanh ông.

Về thành cổ Đồ Bàn nhớ những tài năng thi ca -1
Con voi đá trước cổng thành cổ Đồ Bàn.

Tiếp đó, chúng tôi về dâng hương Nhà lưu niệm nhà thơ Xuân Diệu ở Gò Bồi, thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước. Quê nội ông ở Hà Tĩnh. Đây là quê ngoại nơi ông sinh ra. Như trong bài thơ "Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong" nhà thơ đã viết:

Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ
Vượt đèo Ngang, kiếm nơi cần chữ
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Hai phía đèo Ngang: một mối tơ hồng.

Nhà lưu niệm Xuân Diệu được xây dựng khang trang trên nền nhà cũ của ông bà ngoại gắn liền với tuổi thơ của tác giả "Thơ thơ, Gửi hương cho gió". Một không gian thi vị. Mỗi đồ vật là một câu chuyện đầy cảm xúc. Giếng nước rêu phong thời gian. Cây khế cổ thụ. Cây mận quanh năm sai trĩu quả. Cây sứ trắng được trồng bởi người bạn thân nhất là nhà thơ Huy Cận. Phòng trưng bày nhiều sách ảnh về cuộc đời và sự nghiệp của “Ông hoàng thơ tình”. Các nhà thơ và những người yêu thơ Xuân Diệu hay về đây thăm viếng.

Buổi chiều, chúng tôi lên An Nhơn dâng hương nhà thơ Yến Lan. Nhiều đoàn khách cũng vừa về đây tưởng nhớ tác giả "Bến My Lăng". Sau khi lên tầng thượng ngôi nhà thắp hương cho nhà thơ Yến Lan, chúng tôi được cô con gái út của ông mời ăn những loại chè do chị nấu bán trước nhà. Tôi chợt nhớ ngôi nhà của bà Mộng Cầm người yêu nhà thơ Hàn Mặc Tử bây giờ cũng thành quán chè nổi tiếng ở Phan Thiết.

Bình Định là tên gọi của tỉnh mà cũng là địa danh của thị trấn nhỏ này, gắn với hình ảnh “Tỉnh nhỏ/ cô em/ Nằm xem/ kiếm hiệp” diệu vợi trong thơ Yến Lan. Ngôi nhà cấp bốn của nhà thơ Yến Lan đã được con cháu xây dựng thành nhà cao tầng và tầng thứ 4 trên cùng để dành thờ vợ chồng ông và lưu giữ những kỷ vật của thi sĩ. Nhà nằm đối diện với chợ, cạnh ngôi chùa dưới bóng cổ thụ từng gắn bó nhiều kỷ niệm với nhà thơ Yến Lan nhưng về sau chùa đã bị phá bỏ để xây dựng trụ sở của thị trấn.

Ngôi chùa cổ bị phá bỏ nhưng may còn bến Trường Thi bên dòng sông Cửa Tiền mà nhà thơ Yến Lan dệt nên "Bến My Lăng" bất tử, chỉ có cây cầu tre lắt lẻo bắc qua sông ngày xưa giờ đã được thay bằng cầu mới xi măng. Chùa bị phá nhưng bến sông vẫn còn vì sông chưa bị lấp, mà cũng khó lấp được vì dòng sông sâu rộng nằm ở vùng quê xa chứ đâu phải ở giữa thành phố đất vàng mà lấp.

Nhờ đó, bên dòng sông tạo nên "Bến My Lăng" huyền thoại, chúng tôi đã có một buổi chiều ngắm hoàng hôn trên sông chờ trăng lên, nâng ly rượu Bàu Đá trong tình bạn thơ ấm áp với những món ăn đặc sản của quê hương nhà thơ Yến Lan. Bên kia sông, một chiếc thuyền của ai đó cắm sào bên hàng tre mờ sương mang vẻ đẹp kỳ ảo như thơ ông viết:

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu...

Phan Hoàng
.
.