Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp: Một tài hoa trong trẻo

Chủ Nhật, 01/02/2026, 08:35

Nguyễn Nhược Pháp là chàng trai chỉ đi qua dương thế chưa tròn 24 năm, nhưng những vần thơ trong trẻo “lúc nào hình như cũng thoảng thấy bóng một người đương khúc khích cười” của Nguyễn Nhược Pháp vẫn luôn được người đời nhớ đến, nhất là bài thơ dài “Chùa Hương”. Và nỗi tiếc thương Nguyễn Nhược Pháp “đóa hoa một mùa” vẫn còn mãi trong lòng những người thương mến...

Có lẽ, do cuộc dạo chơi trần thế của chàng thư sinh Nguyễn Nhược Pháp quá ngắn ngủi, cùng với sự biến động của lịch sử và gia đình, nên những sáng tác của ông, những tư liệu về ông được hậu thế biết đến không nhiều.

Ngoài 2 bài thơ và lời bình của Hoài Thanh - Hoài Chân trong “Thi nhân Việt Nam”, thảng hoặc mới có một bài viết về Nguyễn Nhược Pháp của những người bạn thân, người cùng thời như Phạm Huy Thái, Vũ Bằng, Nguyễn Vỹ, Bàng Bá Lân… nhân dịp kỷ niệm nào đó, nhưng có lẽ thường chỉ giới nghiên cứu mới tiếp cận được.

1.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp (12/12/1914 - 19/11/1938).

Gần đây, thật tình cờ tôi có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Lân Bình, là cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh, người gọi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là bác ruột và hiện đang chăm lo phần hương hỏa của đại gia đình. Nhờ ông Bình, tôi may mắn có được “Nguyễn Nhược Pháp - Hoa một mùa”, cuốn sách mà tôi tìm kiếm đã lâu.

Ông Nguyễn Lân Bình chính là người đã dày công biên soạn cuốn sách từ nguồn tư liệu đã được những người em của Nguyễn Nhược Pháp là Nguyễn Phổ, Nguyễn Kỳ và Nguyễn Thị Mười dày công tìm kiếm, sưu tầm từ các đầu sách báo cũ. Theo chia sẻ của ông Bình, mục đích của việc làm này là “vì sự trân trọng tài năng của người anh xấu số và thương mến cốt cách của người anh đã từng là “thầy giáo” của gia đình”.

Cuốn sách gồm các sáng tác thơ, truyện ngắn, kịch và phê bình văn học bằng tiếng Pháp của Nguyễn Nhược Pháp. Chính cuốn sách này đã giúp tôi trả lời nhiều câu hỏi, nhiều thắc mắc về một “người thơ” đã đi qua dương thế khi tuổi đời còn rất trẻ, cách đây gần 90 năm nhưng như đánh giá của Hoài Thanh, Hoài Chân là “có một địa vị trên thi đàn”.

Chính vì thế, cuốn sách “Nguyễn Nhược Pháp - Hoa một mùa” ra đời, “không chỉ là sự bù đắp sự mất mát to lớn của riêng Nguyễn Nhược Pháp, mà còn thể hiện sự nể phục của tất cả anh chị em trong gia đình khi chứng kiến sự thông thái, điềm đạm và luôn sống sáng tạo trong công việc ở một con người có đầu óc thông minh…”.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là người con thứ bảy của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, kết quả của mối tình giữa ông và người vợ hai bà Phan Thị Lựu - con gái một thổ ty giàu có ở Lạng Sơn. Mẹ đẻ mất khi mới lên 2 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp được mẹ cả là bà Đinh Thị Tính đón về nuôi dưỡng, được cả gia đình yêu thương, quý trọng, đặc biệt là mẹ cả.

Theo lời kể của những người thân trong gia đình, khi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời vì bệnh lao, mẹ cả Đinh Thị Tính đã ốm và không ăn nhiều ngày vì quá buồn phiền. Những năm cuối đời, nhiều lần cụ bà Vĩnh đã chia sẻ ý nguyện sau này “khuất bóng” thì “cho mẹ về nằm cạnh thằng Pháp”. Chỉ những chi tiết như thế, cũng đủ cho thấy ông được gia đình thương yêu và tiếc nhớ biết chừng nào.

Theo chia sẻ của nhà văn Vũ Bằng trong bài viết “Nguyễn Nhược Pháp, một nhân tài yểu mệnh” có kể lại rằng, do công việc bận rộn nên cả hai cụ Nguyễn Văn Vĩnh đều không biết việc Nguyễn Nhược Pháp làm thơ, viết báo, in sách. Mãi sau khi có bài viết khen tập thơ “Ngày xưa” (do Nguyễn Dương xuất bản tại Hà Nội năm 1935) của Nguyễn Nhược Pháp trên Báo Trung Bắc tân văn của cụ cử Mai Đăng Đệ, cụ Vĩnh mới tạt vào xem bài báo. Sau đó, khi đọc tập “Ngày xưa”, cụ Vĩnh đến giữa tòa soạn cười ha hả mà nói rằng: “Cũng hay, tôi không ngờ lại có con là thi sĩ. Nhờ các tiên sinh dìu dắt, cháu sau này chịu khó là nhờ ơn các tiên sinh”.

2..jpg -1
Cuốn sách “Nguyễn Nhược Pháp - Hoa một mùa” có nhiều tư liệu quý giá về nhà thơ tài hoa bạc mệnh.

Học giả Nguyễn Văn Vĩnh qua đời năm 1936 và hai năm sau đó người con trai mà gia đình rất mực thương yêu, hy vọng Nguyễn Nhược Pháp cũng qua đời vì căn bệnh lao hạch. Học giả Nguyễn Văn Vĩnh không được chứng kiến việc ông có hai người con trai là thi sĩ, có thơ được chọn vào thi tuyển “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân lưu lại cho hậu thế.

Trong “Thi nhân Việt Nam”, Nguyễn Nhược Pháp xuất hiện với 2 bài thơ là “Tay ngà” và “Chùa Hương”, là 2 bài thơ rút từ tập “Ngày xưa”, khi đó tác giả mới 21 tuổi. Tuy nhiên, theo tiết lộ của Hoài Thanh - Hoài Chân: “Chúng tôi còn muốn trích 2 bài nữa: “Sơn Tinh - Thủy Tinh” và “Một buổi chiều xuân”, nhưng không thể được vì phải chiều theo lời yêu cầu của ông Nguyễn Giang. Các bạn chịu khó xem quyển “Ngày xưa”.

Ông Nguyễn Giang mà Hoài Thanh-Hoài Chân nhắc đến ở đây, chính là người anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Nhược Pháp, cũng có thơ được tuyển và giới thiệu trong “Thi nhân Việt Nam”. Có thể do sự trân trọng với cha họ là học giả Nguyễn Văn Vĩnh - người đầu tiên dịch tác phẩm “Truyện Kiều” ra chữ Quốc ngữ ở miền Bắc và có nhiều công lao lớn trong việc phổ cập chữ quốc ngữ và phát triển hoạt động báo chí những năm đầu thế kỷ XX, nên trong lời giới thiệu, Hoài Thanh - Hoài Chân đã dành cho họ những lời ngắn gọn nhưng đầy trọng thị.

Đối với họa sĩ, nhà thơ Nguyễn Giang, lời giới thiệu ghi: “Con nhà văn hào Nguyễn Văn Vĩnh. Trên 30 tuổi. Đã du học bên Pháp. Về nước chủ trương Âu tây tư tưởng và Đông Dương tạp chí. Họa sĩ hơn là thi sĩ. Đã xuất bản "Trời xanh thẳm" (1935)”. Cùng với lời bình thừa nhận việc “không dám chắc đã hiểu được thơ Nguyễn Giang”, nhưng Hoài Thanh - Hoài Chân vẫn giới thiệu 3 bài thơ của Nguyễn Giang là: “Xuân”, “Con đường nắng”, “Mẹ”.

Còn đối với Nguyễn Nhược Pháp, lời giới thiệu ghi: “Con nhà văn hào Nguyễn Văn Vĩnh. Sinh ngày 12/12/1914, mất ngày 19/11/1938. Học ở Hà Nội. Có bằng tú tài tây. Làm thơ từ 1932. Ngoài thơ có viết nhiều truyện ngắn và kịch. Có viết giúp: Annam nouveau, Hanoi báo, Tinh hoa, Đông Dương tạp chí. Đã xuất bản: "Ngày xưa" (1935)”.

Cùng với lời giới thiệu là bài bình thơ khá dài với rất nhiều trìu mến: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng được Nguyễn Nhược Pháp. Không mến sao được? Với đôi ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Không phải cái thời xưa nặng nề của các nhà sử học, không phải cái thời xưa tráng lệ hay mơ màng của Huy Thông, mà là một thời xưa với những màu sắc tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh. Thời xưa ở đây đã mất hết cái vẻ rầu rĩ cố hữu và đã biết cười, cái cười của “thắt lưng dài đỏ hoe”, nhưng đôi “dép cong” nho nhỏ. Những cảnh ấy vốn có thực. Nhưng dầu sự thực không có thì nhà thơ sẽ tạo ra, khó gì…”.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời năm 1938, 4 năm sau “Thi nhân Việt Nam” mới ra đời, nhưng Nguyễn Nhược Pháp vẫn trở thành một nhà thơ nổi tiếng, đặc biệt là với bài thơ ngũ ngôn “Chùa Hương” sáng tác năm 1934 và được NSND Trung Đức phổ nhạc vào khoảng những năm 80 của thế kỷ trước, được rất nhiều người yêu mến.

Nhưng ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn rất say mê với kịch, từng sáng tác một số vở kịch ngắn đăng báo và đã được gia đình sưu tầm, in lại trong cuốn “Nguyễn Nhược Pháp - Hoa một mùa” như: “Một chiều chủ nhật”, “Khỏi nấc”, “Sầm Sơn”, “Người học vẽ”, “Bữa cơm”, “Người lao”. Ông từng cùng với một số người bạn thân, đặc biệt với người bạn tri kỷ là nhà thơ Phạm Huy Thông, “ôm mộng” lập ban kịch để biểu diễn vở “Người học vẽ”. Nhưng đầu năm 1938, Phạm Huy Thông sang Pháp du học với lời hẹn của Nguyễn Nhược Pháp: “Tôi chờ anh bốn năm nữa về làm việc”, nhưng lời hẹn ấy đã mãi mãi thành dang dở…

Trên ấn phẩm “Tiểu thuyết thứ Năm” số 8 ra ngày 24/11/1938 đã đăng trọn vẹn “Điếu văn Nguyễn Nhược Pháp” do nhà thơ Lưu Trọng Lư thay mặt anh em bạn văn làm và Nguyễn Mạnh Chất đã đọc hôm an táng Nguyễn Nhược Pháp với lời dẫn:

“Hà Nội đã mất một tài hoa. Văn chương đã mất một đứa con. Và chúng ta đã mất một người bạn: anh Nguyễn Nhược Pháp đã tạ thế hồi 7 giờ sáng ngày 19 Novembre 1938, tại nhà thương Lanessan, Hà Nội. 4 giờ chiều chủ nhật 20/11/1938, giờ và ngày chua xót cho lịch sử văn học của chúng ta, gia quyến anh Nguyễn Nhược Pháp cùng số đông bạn học và tất cả các nhà văn, nhà thơ có hay không được quen biết anh, đã theo xe tang anh trong một bầu không khí yên lặng, thương tâm và cảm động vô cùng. Anh đã được an táng ở Hợp Thiện, giữa tiếng khóc thầm của đủ mặt những văn sĩ và bạn anh…”.

Theo chia sẻ của gia đình, hiện nay mộ nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã được gia đình đưa về làng Phượng Dực, Phú Xuyên (nay thuộc Hà Nội), được xây chung trong khu mộ gia đình cùng với mộ cha là Nguyễn Văn Vĩnh và người anh Nguyễn Giang mà Nguyễn Nhược Pháp rất mực yêu thương, tôn kính.

Nguyệt Hà
.
.