Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên
Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.
Tín ngưỡng "vạn vật hữu linh" của đồng bào Tây Nguyên
Đối với đồng bào Tây Nguyên, núi non, cây cối, dòng sông, con suối đều thiêng liêng, là nơi trú ngụ của những vị thần (Yàng). Họ có rất nhiều Yàng. Đứng đầu là Yàng Ndu, vị thần khai sáng dựng lên trời đất, có quyền năng tuyệt đối.
Bên dưới là các vị thần trong vũ trụ như Yàng Máttơngai (thần Mặt Trời), Yàng Kơnhai (thần Mặt Trăng), Yàng Tiah (thần Mặt Ðất), Yàng Trồ (thần Bầu Trời). Các vị thần trú ngụ ở núi rừng như Yàng Bnơm (thần Núi), Yàng Bri (thần Rừng), Yàng Ù (thần Ðất), Yàng Dà (thần Nước), đến những vị thần gần gũi với cuộc sống hàng ngày như Yàng Kòi (thần Lúa), Yàng Hìu (thần Nhà)...
Trong tâm tưởng của đồng bào, mỗi thần lo mỗi việc nhưng tất cả đều chở che, phù trợ cho người dân, đồng thời là đấng tối cao chứng giám những điều hay lẽ phải, xử phạt những điều sai trái, hành vi phạm vào luật tục của buôn làng. Do đó, làm việc gì họ cũng cúng bái, xin phép Yàng, từ việc chung của buôn làng đến việc của gia đình, được việc rồi thì cúng tạ ơn, dùng các lễ vật dâng lên Yàng, bày tỏ lòng thành kính, lớn thì bò trâu, nhỏ thì dê gà, thóc lúa…
Từ xa xưa, đời sống của đồng bào Tây Nguyên gắn liền với rẫy nương, với cây lúa. Sự đói no, tồn vong của buôn làng phụ thuộc hoàn toàn vào mùa vụ. Họ kính trọng cây lúa, gọi là "lúa Mẹ", và rẫy là nơi trú ngụ của thần và hồn lúa, cần được giữ gìn thanh khiết, bất cứ sự uế tạp nào cũng khiến cho thần nổi giận, hồn lúa bỏ đi. Lúc thu hoạch, phải dùng tay tuốt, không được dùng dao cắt, như thế là cắt ngang hồn lúa, khiến hồn sợ hãi đi mất, làm cho mất mùa, đói kém.
Từ sự kính ngưỡng đó, mỗi dân tộc đều có chuỗi nghi lễ theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa. Với người Cơ Ho có lễ Nhô dơng cầu mưa trước khi xuống giống, lễ Nhô sih srê mừng gieo sạ, lễ Nhô rào jơng rơpu mừng rửa chân trâu, lễ Nhô wèr khi lúa trổ đòng, lễ Nhô lir bờkao lúc lúa lên bông, Nhô lềrbong mừng vụ mùa kết thúc... Từ "nhô" có nghĩa là uống, và mỗi dịp "Nhô" là một lần lễ hội, sau các nghi thức cúng Yàng, người dân ăn uống vui chơi, ca hát trong âm thanh của cồng chiêng, trong điệu múa xoang nhịp nhàng, là dịp gắn kết mọi người trong buôn làng.
Nhơ dơng của người Cơ Ho
Trong lần về miền đại ngàn Đam Rông (tỉnh Lâm Đồng), tôi được tham dự chương trình phục dựng lễ cầu mưa (Nhô dơng) của người Cơ Ho nhánh Cil. Nhô dơng thường diễn ra vào tháng 3, tháng 4 là tháng nóng gay gắt và khô hạn nhất ở vùng đất phía tây nam Tổ quốc. Người dân làm lễ cầu mưa trước khi bắt đầu vụ mùa để mong các vị thần cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng bội thu.
Để chuẩn bị cho Nhô dơng, người dân dựng 5 cây nêu lên khoảng đất chung của buôn, 1 cây chính và 4 cây xung quanh, gọi là cây nêu anh, nêu em. Dưới gốc cây nêu anh, già làng và những người phụ lễ đặt xà gạc, dao phát, cối chày giã gạo, gùi… hạt giống lúa, bắp, bầu, khoai, sắn, đậu… là những đồ vật gắn bó với cuộc sống nông nghiệp tự bao đời của người dân; những lễ vật dâng lên Yàng như xôi, gà, trứng, cá, bắp… được bày biện trang trọng và thành kính, cùng với vật hiến sinh là con gà còn sống và con dê để tiến hành nghi thức cầu mưa. Dưới các cây nêu em đặt các ché rượu cần, gùi, dựng các bó lúa và nhiều vật dụng dùng trong nông nghiệp khác.
Người dân trong buôn, già trẻ, gái trai mặc trang phục thổ cẩm truyền thống, cùng nhau tụ họp. Khi dân làng có mặt đông đủ, già làng K'Tư cùng các phụ lễ đi quanh cây nêu, xin phép Yàng mở hội cầu mưa. "Ơ… ơ… Yàng! Lời nói muốn được đúng, già trẻ được nhiều vui vẻ, hạnh phúc, mọi người muốn được yêu thương nhau, đoàn kết gắn bó, không chia rẽ, nhiều như cá dưới nước, đông như kiến bu cơm, muốn trời sáng thần soi. Hỡi Yàng. Xin lạy các Yàng, xin cho buôn làng được mở hội cầu mưa".
Già K'Tư vừa dứt lời, một thanh niên thổi ba hồi tù vang vọng, báo hiệu nghi lễ bắt đầu. Già K'Tư khấn tạ ơn các Yàng và mời Yàng về dự lễ cùng buôn làng: "Ơ… ơ… Yàng, Yàng mây, Yàng mưa, Yàng sấm, Yàng chớp, Yàng sét. Này đây lễ vật dâng cho các thần. Thần dựng nêu anh, thần dựng nêu em, đứng chứng kiến khắp vùng này nhé. Hỡi thần núi, thần sông, thần trời, thần đất. Xin lạy các thần cho mưa thuận, gió hòa, có lúa, có thóc, có bắp đầy nhà. Muốn có trăm gùi bắp, muốn có ngàn gùi lúa, ăn được chắc, bán được giá, con cái được ấm no. Ở nơi đây xin cho được giàu có, xin cho mọi người được khỏe mạnh, xin cho được bình an. Xin được sống đến già, đến bạc tóc, rụng răng. Sinh con muốn được khỏe mạnh, nuôi con muốn được lớn khôn".
Trong các vị thần không thể thiếu thần Chiêng. Với người Tây Nguyên, chiêng là vật thiêng để kết nối những tâm tư, nguyện cầu của con người đến thần linh. Mỗi mặt chiêng đều có Yàng Chiêng ngự trị. Già K'Tư tiếp tục khấn. "Ơ…ơ… Yàng! Hỡi Yàng Chiêng linh thiêng đang ngự trong các chiêng to, chiêng nhỏ, chiêng mẹ, chiêng con. Có cái ăn cái để, biết nói biết nghe, biết làm theo điều phải là nhờ ơn Yàng. Xin đa tạ và mời Yàng về dự. Xin Yàng cho hạ giàn chiêng xuống và đánh lên vang dội núi rừng, đánh được nghe tiếng vang, thổi được nghe tiếng nhạc, đánh một buôn cả bảy buôn nghe, đánh bên này nghe được bên kia".
Lúc này, giàn chiêng droòng sáu chiếc được hạ xuống. Đội chiêng tấu lên bài nghi thức hiến sinh. Tiếng chiêng Vang, chiêng Rđơm, chiêng Dờn… đồng loạt ngân lên. Chiêng Me, chiêng Rlum với những thanh âm trầm hùng gửi gắm lời nguyện cầu đến thần linh. Cùng lúc đó, các phụ lễ giúp già K'Tư lấy máu vật hiến sinh là con gà bôi lên cây nêu, các mặt chiêng, các lễ vật và lên trán những người dự lễ, mong những lời khẩn cầu Yàng được linh ứng.
Những người tham dự lễ quỳ thành vòng tròn xung quanh, trang nghiêm gửi lời nguyện cầu đến các Yàng. Già K'Tư khai mở ché rượu cần, thành kính dâng lên các vị thần.
Tiếp đến, già K'Tư thực hiện nghi thức tắm dê, múc nước tưới lên mình chú dê được buộc bên cạnh cây nêu. Già K'Tư cho biết, trong quan niệm của người Cơ Ho Cil, việc tắm dê và lấy trứng của con chim đen là hai việc kiêng kỵ, động chạm đến trời đất, khiến Yàng tức giận gieo sấm chớp, gieo mưa xuống. Nếu có ai lỡ mang con dê đi tắm tức là phạm đến Yàng, Yàng nổi giận gây mưa, gió liên tục. Trong lễ Nhô dơng, việc tắm dê sẽ làm cho Yàng giận dữ mà làm mưa để người dân có nước trồng trọt, cho lúa trĩu cành, hạt chắc tới cậy, mùa màng bội thu, buôn làng no ấm.
Nghi lễ kết thúc, buôn làng bước vào phần hội. Mở đầu bằng bài chiêng đón khách với tiết tấu tươi vui, cùng với tiếng khèn bầu dặt dìu, vòng xoang mở ra, các cô gái xoay điệu dân vũ uyển chuyển xung quanh các cây nêu. Lúc này, những ché rượu cần được đem tới mời khách, mọi người vít cong cần rượu, buôn làng cùng nhau ăn uống, hát múa, vui chơi.
Trong phần hội, mọi người cùng tham gia các trò chơi dân gian như leo cột mỡ, lấy nước bằng quả bầu, kéo co, nhảy sạp... Bắt đầu mỗi trò chơi, người dân của buôn chơi trước làm mẫu, sau đó các vị khách cùng tham gia, có người chơi được người không, nhưng ai cũng hào hứng, hăng say, rộn tiếng cười dưới cái nắng chói chang.
Trước đây, Nhô dơng của đồng bào thường kéo dài thâu đêm, trong 2 - 3 ngày. Ngày nay, do sự chuyển biến của xã hội, sự phát triển kinh tế, phần lớn cây lúa được thay bằng cây công nghiệp, cây ăn trái như cà phê, tiêu, sầu riêng; rẫy lúa thiêng thay bằng ruộng hoa màu, bãi dâu; hệ thống đê điều, thủy lợi, máy bơm vào tận xóm làng, nương rẫy… Đời sống đồng bào khấm khá sung túc hơn, và hệ quả tất yếu là những nghi lễ theo vòng đời cây lúa rẫy cũng không còn.
Trong sự nỗ lực giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên, các nghi lễ có nguy cơ mai một như lễ cầu mưa, lễ mừng lúa mới… đã và đang được địa phương cùng các già làng phục dựng để không làm mất đi nét văn hóa độc đáo của núi rừng.
