Hồng nhan và chiến tranh - Bản trường ca của hy sinh và phẩm hạnh
Tập truyện ngắn và ký "Những người đàn bà đi qua chiến tranh" là một tác phẩm vừa được NXB Phụ nữ Việt Nam ấn hành đầu năm nay của nhà văn, nhà báo Nguyễn Thị Vân Anh – một cây bút nữ đã lặng lẽ nhưng bền bỉ góp tiếng nói riêng của mình vào dòng chảy văn học Việt Nam đương đại.
Nhà báo Nguyễn Thị Vân Anh từng là Phó tổng biên tập của Báo Thiếu niên Tiền phong, Báo Thời báo Kinh tế Việt Nam, nguyên Tổng biên tập Báo Nhi đồng, Họa Mi, Báo Nhà báo & Công luận. Một trong những thành công nhất của bà trong lĩnh vực báo chí là phóng sự "Tiếng hú của con tàu" đã đăng trên Báo Văn nghệ năm 1987 nói về thực trạng của ngành đường sắt khi đó.
Những cảnh chờ chực mua vé tàu, những toa tàu hôi hám và chen chúc, cả cảnh phá hoại đường tàu để lấy sắt, bu lông, ốc vít… kinh hãi nhất là cảnh ném đá đường tàu mà bây giờ nghĩ lại vẫn sởn hết cả da gà. Phóng sự đã đến được tay Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Từ đó ngành đường sắt Việt Nam được Đảng và nhà nước quan tâm hơn và đã có những bước tiến đáng kể như ngày nay.
Bà là Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội từ năm 1970 và Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1986. Bà có nhiều tập sách viết cho thiếu nhi, các tuyển tập truyện ngắn rất có chất lượng với cây bút sắc sảo của một nhà báo kỳ cựu.
Ngay từ nhan đề, tập sách đã gợi mở một không gian cảm xúc: “những người đàn bà” - không phải một người, mà là nhiều số phận; “đi qua chiến tranh” – không chỉ là những người sống trong chiến tranh, mà là những người mang theo chiến tranh trong ký ức, trong thân thể, trong đời sống hậu chiến. Đó là hành trình của hy sinh, của chịu đựng – và cũng là hành trình của phẩm hạnh và lòng kiêu hãnh của phụ nữ Việt Nam.
Từ huyền thoại lịch sử đến đời sống đương đại
Điểm đặc biệt của tập truyện là cấu trúc mang tính liên văn bản giữa quá khứ và hiện tại. Tác phẩm mở ra bằng những câu chuyện mang màu sắc lịch sử – như "Huyền thoại công chúa nhà Trần", "Nữ đô đốc cưỡi voi đánh giặc" – rồi chuyển dần sang những truyện ngắn và truyện ký về phụ nữ trong chiến tranh hiện đại và những di chứng chiến tranh mãi còn trong đời sống hôm nay.
Trong hình tượng Công chúa Huyền Trân, người đọc bắt gặp một thân phận “hạt mưa sa” giữa thời cuộc. Nàng là biểu tượng cho những người phụ nữ phải đặt lợi ích quốc gia lên trên hạnh phúc cá nhân. Sự hy sinh ấy không ồn ào, không bi lụy, mà thấm đẫm nỗi cô đơn. Tác giả không chỉ kể lại một truyền thuyết, mà khơi dậy chiều sâu tâm trạng, để người đọc cảm nhận được phía sau những trang sử vàng là những giọt nước mắt lặng lẽ của người phụ nữ. Là những cuộc tình dở dang, là nỗi đau đớn của con tim …
Văn học không phải là lịch sử và mối tình giữa công chúa Huyền Trân và quan Hành khiển Trần Khắc Chung qua cây bút của nhà văn Nguyễn Thị Vân Anh có một cái kết bỏ ngỏ đầy nhân văn pha chút lãng mạn. Dù không đến được với nhau nhưng sau khi “cướp” được công chúa về nước họ đã có một năm “sửa tàu” bên nhau. Và mỗi người trong chúng ta ai cũng biết rằng chỉ cần một ngày được ở bên cạnh người mà mình yêu đã là "trăm năm” rồi.
Hình tượng nữ tướng Bùi Thị Xuân trong "Nữ đô đốc cưỡi voi đánh giặc" hiện lên với khí phách hiên ngang của người con gái đất võ Bình Định trong các trận đánh với đội quân “cõng rắn cắn gà nhà” Nguyễn Ánh. Nhưng điều làm nên sức lay động của truyện không chỉ là những trận chiến, mà là giây phút bà phải chứng kiến cảnh chồng mình tướng quân Trần Quang Diệu bị Nguyễn Ánh hành hình bằng cách xẻo từng miếng thịt rất dã man.
Khi đó Nguyễn Ánh đã tuyên bố “Nếu chịu quỳ gối xin tha, ta sẽ cho các ngươi được sống, sẽ trọng dụng tài năng cầm quân của các ngươi và gia đình các người sẽ được hưởng một cuộc sống giàu sang phú quý. Còn nếu không, ta sẽ hành hình các ngươi bằng cực hình dã man nhất là ngựa xé voi dày”. Bà đã ngạo nghễ ngẩng cao đầu, dõng dạc đáp: “Ta và chồng con ta thà chết vẻ vang, chứ không bao giờ thèm ham phú quý mà hạ mình trước một kẻ đê hèn đi cầu ngoại bang bán nước hại dân nhưnhà ngươi”.
Hình ảnh hai mẹ con bà quấn lụa trắng để giữ gìn thân thể khi bước ra pháp trường cho ngựa xé phanh thây không chỉ là chi tiết lịch sử, mà còn là biểu tượng phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam. Trong truyện ngắn này hình ảnh các nữ tướng Bà Trưng, Bà Triệu cũng được tác giả điểm xuyết làm tăng thêm khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam qua rất nhiều thời kỳ của lịch sử.
Từ những nhân vật lịch sử ấy, tác giả đã đưa ra một thông điệp xuyên suốt tác phẩm: phụ nữ Việt Nam thời nào cũng có những nữ anh hùng. Rất nhiều người được sử sách ghi danh và để chúng ta có quyền tự hào về điều đó.
Phía sau vầng hào quang là nỗi đau không đo đếm được
Nếu hai truyện đầu mang sắc thái sử thi, thì phần trung tâm của tập sách – đặc biệt là truyện ký "Những người đàn bà đi qua chiến tranh" – lại kể về một nữ anh hùng của thời kháng chiến chống Mỹ Trần Thị Lý. Tôi đã rùng mình khi đọc đến những đoạn văn kể về cảnh giặc tra tấn chị, cắt núm vú chị, cho thước sắt vào âm đạo, đổ nước bẩn xà phòng vào cổ họng… vậy mà chị vẫn nhất quyết không khai một lời nào. Đánh dã man đến mức người con gái giao liên đó chỉ còn 26kg với vết thương chằng chịt trên cơ thể.
Thật xúc động khi đọc những dòng tâm sự của chị Trần Thị Lý khi được phong Anh hùng muộn: “Đất nước chiến tranh, cả nước đứng lên chống giặc, có biết bao người như ta. Hàng vạn người bị giặc giam cầm tra tấn dã man, đâu phải chỉ có mình chị. Trên dọc đường Trường Sơn có hàng triệu chàng trai cô gái đã hiên ngang dưới bom đạn, phá núi mở đường cho các đoàn quân ào ào tiến vào mặt trận và họ thầm lặng hy sinh tuổi xuân mà chẳng đòi hỏi gì. Vậy nên ta phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc chứ đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta”.
Dẫu chị vẫn được người yêu đầu đời cưới làm vợ nhưng nỗi đau không được làm mẹ, làm vợ vẫn còn vẹn nguyên như một mất mát không lời…
Câu văn “Đàn bà chiếm một nửa thế giới. Họ đóng góp một nửa chiến công và xương máu…” không chỉ là một lời khẳng định, mà là một lời tri ân. Ở đây, văn chương trở thành một hình thức tưởng niệm – tưởng niệm những mất mát không thể đo đếm.
Một điểm đáng trân trọng trong tập truyện là tác giả không dừng lại ở chiến tranh như một quá khứ đã khép lại. Bà tiếp tục đặt câu hỏi về những hệ lụy của chiến tranh trong đời sống hôm nay.
Truyện "Nỗi đau da cam" là một minh chứng. Ở đó, bi kịch không nằm ở chiến trường, mà trong căn phòng bệnh viện, nơi một đứa trẻ sinh ra mang dị tật. Hình ảnh người mẹ chạy theo vẻ đẹp nhân tạo, từ chối cho con bú vì sợ ảnh hưởng đến “hai túi silicon”, đặt cạnh người cha thức trắng đêm dỗ con, đã tạo nên một nghịch lý chua xót. Đó không chỉ là câu chuyện về một gia đình, mà là sự va chạm giữa giá trị truyền thống và lối sống thực dụng, giữa bản năng làm mẹ và ảo tưởng hình thức. Nhưng đau hơn cả là chất độc màu da cam không chỉ ảnh hưởng đến lớp con mà cả cháu của những người lính.
Nghệ thuật kết hợp giữa sử thi và trữ tình
Về phương diện nghệ thuật, tập truyện mang đậm giọng điệu trữ tình kể cả những người đàn bà của lịch sử. Ngay cả khi viết về chiến trận, câu văn của chị vẫn mềm mại, giàu hình ảnh. Những đoạn miêu tả sương sớm trên hồ, tiếng vó ngựa lóc cóc, hay cơn mưa rào tháng Tám… cho thấy một tâm hồn nhạy cảm với thiên nhiên và thời gian.
Nhà văn có xu hướng đặt nhân vật nữ vào trung tâm ánh sáng. Tuy nhiên, ánh sáng ấy không làm lu mờ những bóng tối của số phận. Trái lại, chính trong bóng tối – nơi pháp trường, nơi phòng bệnh, nơi góc bếp – vẻ đẹp kiên trung, hồn hậu của những người phụ nữ Việt Nam vẫn tỏa sáng.
Ở phần đầu tập sách, tác giả viết rằng cuốn sách này là lời tri ân gửi tới những người phụ nữ đã hy sinh cho đất nước. Tôi cho rằng, ngoài tri ân, đây còn là một lời nhắc nhớ.
Nhắc nhớ rằng tự do, hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có.
Nhắc nhớ rằng phía sau những chiến công là nước mắt của những người mẹ.
Nhắc nhớ rằng phẩm giá con người – đặc biệt là phẩm giá phụ nữ – cần được trân trọng trong mọi thời đại.
"Những người đàn bà đi qua chiến tranh" không phải là một tập truyện gây sốc, chạy theo thị hiếu thị trường bằng những thủ pháp hậu hiện đại hay những thử nghiệm hình thức mới. Giá trị của cuốn sách nằm ở sự chân thành, ở thái độ biết ơn lịch sử và niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của con người. Văn chương, suy cho cùng, là hành trình đi tìm và giữ gìn những giá trị nhân bản. Với tập truyện này, nhà văn đã góp thêm một tiếng nói nhẹ nhàng vào bản hòa ca về người phụ nữ Việt Nam – từ quá khứ đến hôm nay.
Và xin cảm ơn những “người đàn bà” – dù có tên trong sử sách hay không – đã đi qua chiến tranh để chúng ta được sống trong hòa bình hôm nay.
