Bị từ chối hôn nhân vì quá điển trai và hát hay

17:01 13/05/2022

Đó là chuyện của Dương Thiệu Tước - một nhạc sĩ rất nổi tiếng của dòng nhạc ta vẫn quen gọi là “tiền chiến”. Tên tuổi ông xuất hiện cùng thời với những nhạc sĩ Phạm Duy, Thẩm Oánh, Văn Chung, Lê Yên, Lê Thương, Doãn Mẫn, Nguyễn Xuân Khoát… Ông là một trong những nhạc sĩ đi tiên phong trong việc thúc đẩy sự phát triển của tân nhạc Việt Nam.

Ông cũng là người chủ trương học nhạc Tây nhưng khi sáng tác thì phải dựa trên nền tảng âm nhạc dân tộc, thắm đẫm hồn dân tộc. Vậy nên, tất cả những ca khúc của ông đều rất ít bị ảnh hưởng âm nhạc phương Tây mà hồi đó nhiều nhạc sĩ khó tránh khỏi.

Tên tuổi của Dương Thiệu Tước gắn liền với những bài hát vang bóng một thời: “Đêm tàn bến Ngự”, “Ngọc Lan”, “Áng mây chiều”, “Bóng chiều xưa”, “Dòng sông xanh”, “Bến xuân xanh”, “Tiếng xưa”, “Khúc nhạc dưới trăng”, “Kiếp hoa”… và hai bài phổ thơ “Thề non nước” của Tản Đà và “Chiều” của Hồ Dếnh. Tất nhiên, những bài trên ra đời và nổi tiếng trong quá khứ đã xa nên chỉ công chúng ở tuổi từ 80 trở lên mới có thể biết. Những bài hát của ông phần nhiều xoay quanh chủ đề tình cảm lứa đôi và tình yêu, hoài niệm về quê hương, đất nước với những nỗi niềm tâm sự của một nghệ sĩ lãng mạn, có trái tim luôn đa cảm và nhạy cảm.

duongthieutuoc.jpg -0
Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Dương Thiệu Tước sinh năm 1915, quê ở Vân Đình, Ứng Hòa (Hà Tây cũ, nay thuộc về Hà Nội). Ông xuất thân gia đình Nho học, có người ông nội là Dương Khuê từng làm đốc học ở Nam Định và là bạn rất thân của nhà thơ Nguyễn Khuyến. (Khi Dương Khuê qua đời, nhà thơ họ Nguyễn đã làm bài thơ “Khóc Dương Khuê” rất nổi tiếng, ai đọc cũng ngậm ngùi “Bác Dương nay đã thôi rồi. Cỏ cây man mác ngậm ngùi lòng ta…”).

Do có năng khiếu từ nhỏ nên Dương Thiệu Tước tiếp thu âm nhạc rất nhanh. Lên 7 tuổi, ông đã học rồi đánh thành thạo đàn nguyệt và đàn tranh. 14 tuổi học piano và 16 tuổi học thêm đàn ghita. Cậu bé Tước sớm nổi tiếng ở quê nhà do còn nhỏ đã chơi thành thạo được nhiều loại đàn cả dân tộc lẫn hiện đại. Năm 1940, gia đình ông có cửa hàng bán và sửa chữa đàn ở 57 phố Hàng Gai (Hà Nội). Do ông chơi đàn rất hay mà cửa hàng luôn đông khách.

Năm 1954, Dương Thiệu Tước 39 tuổi, cùng gia đình vào Sài Gòn sinh sống. Ông làm chủ sự phòng Văn nghệ Đài phát thanh và dạy dàn ở Trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn.

Dương Thiệu Tước có mối tình đầu đẹp như mơ nhưng dang dở. Số là khi 18 tuổi, ông tình cờ gặp và nhanh chóng yêu say đắm một cô gái tên Vi Kim Ngọc, kém mình một tuổi, có nhan sắc vô cùng kiều diễm, đã hút hồn ông ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nàng cũng không thể cưỡng lại lòng mình trước anh chàng cực kỳ điển trai, lại có giọng hát rất hay và đánh giỏi nhiều loại đàn. Hai gia đình cũng “môn đăng hộ đối”.

Cha của Tước là một viên quan trong bộ máy hành chính của Hà Nội lúc bấy giờ. Kim Ngọc là con gái Vi Văn Định khi ấy là Tổng đốc Hưng Yên. Bên nhà Tước nhanh chóng lo lễ đem sang nhà Ngọc để cầu hôn. Về sau, nhà gái phát hiện Tước chỉ đỗ bằng Điplôme, trượt Tú tài rồi vào học trường nhạc, nhưng trường này khi ấy cũng đóng cửa vì khủng hoảng kinh tế. Mọi người bàn ra tán vào, cho rằng anh chàng đàn ngọt, hát hay này quá điển trai sẽ là hiểm họa cho con gái họ, bằng cấp lại quá khiêm tốn so với gia thế nhà họ Vi. Thế là họ đã trả lại đồ lễ.

Cuộc hôn nhân không thành. Giữa lúc đó, một chàng đậu bằng tiến sĩ ở Pháp về nước tên là Nguyễn Văn Huyên đã lọt vào mắt của gia đình họ Vi. Và Vi Kim Ngọc đã nên duyên với chàng tiến sĩ trẻ này. Về sau, dưới chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nguyễn Văn Huyên nhiều năm làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, có nhiều đóng góp lớn cho ngành này mà không một bộ trưởng hậu nhiệm nào sánh kịp.

Quá đau buồn trước cuộc tình không dẫn được đến hôn nhân, liền sau đó, Dương Thiệu Tước lấy vợ là cô Lương Thị Thuần, sinh liền 5 con. Cuộc sống phẳng lặng bên người vợ hiền nhưng không từ tình yêu lãng mạn giống như yêu cô Kim Ngọc, ông ít sáng tác và nếu có cũng không mấy đặc biệt.

Đến năm 1949, một “tiếng sét ái tình” lần thứ hai lại nổ ra với Dương Thiệu Tước khi có sự xuất hiện của cô ca sĩ nổi tiếng Minh Trang. Lúc này, Trang đang rất đình đám, là giọng hát chủ chốt trên Đài Pháp - Á (tiền thân của Đài Phát thanh Sài Gòn). Cô được mời ra dự Hội chợ đấu xảo ở Hà Nội để hát với dàn nhạc đệm do Dương Thiệu Tước phụ trách.

Nhạc sĩ mê nhan sắc và giọng hát tuyệt vời của Minh Trang. Cô ca sĩ sắc nước hương trời cũng biết tiếng tăm của nhạc sĩ từ trước và rất ngưỡng mộ. Điều gì đến đã đến. Năm 1951, hai người nên duyên. Nhưng phải mãi 3 năm sau - 1954 - ông mới vào Sài Gòn để chung sống với Minh Trang. Thời kỳ này ông cho ra đời nhiều sáng tác hay nhất. Cũng thật thuận tiện khi sáng tác bài nào Minh Trang cũng là người đầu tiên hát, giới thiệu ra công chúng nên nhanh chóng được mọi người biết đến.

Sau ngày 30/4/1975, Minh Trang cùng các con cư trú ở nước ngoài. Dương Thiệu Tước do đau yếu không đi được. Ông lại sống những tháng ngày cô đơn. Rồi một ngày kia, có một nơi do hâm mộ mà mời Dương Thiệu Tước đến nói chuyện về âm nhạc. Tại đây, tình cờ ông gặp lại một phụ nữ tên Nguyễn Thị Nga trước đây là học trò của mình. Nga ngày trước thầm yêu nhạc sĩ nhưng thấy người lý tưởng đã có vợ, con nên chỉ giấu kín trong lòng. Nay thương ông sống đơn lẻ đã sẵn sàng nâng khăn sửa túi. Đây là cuộc tình cuối cùng của ông. Hai người sống ở quận Bình Thạnh cho đến lúc ông qua đời vào năm 1995.

screen shot 2022-05-14 at 23.03.10.jpg -0
Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và người vợ thứ 2, Minh Trang.

Tôi có sở thích rất muốn được tiếp xúc với những văn nghệ sĩ, đặc biệt trong giới âm nhạc mình ưa thích, nhất là những người sống ở miền Nam trước năm 1975. Kể cả những người đã ra sống ở nước ngoài, nếu có dịp đến đó, có điều kiện, tôi cũng cố gắng tìm gặp. Vì rất thích bài “Đêm tàn bến Ngự” mà năm 1980, một lần vào TP Hồ Chí Minh, tôi đã gặp được Dương Thiệu Tước. Lúc này, ca sĩ Minh Trang - vợ ông - đã đưa các con ra định cư ở nước ngoài. Ở tuổi 65, nhưng ông vẫn còn nguyên vẹn sự trẻ trung với những nét đẹp, hào hoa thời trai trẻ.

Ông kể tỉ mỉ cho tôi nghe đầu đuôi, xuất xứ việc cho ra đời hai bài nổi tiếng nhất là “Ngọc Lan” và “Đêm tàn Bến Ngự”. Kể xong, ông cầm đàn ghita vừa tự đệm vừa hát lại cho tôi nghe. Giọng ông vẫn còn rất vang và chuẩn xác. Ông nói mình không sinh ra ở Huế nhưng đó là quê của người vợ Minh Trang mà ông rất đỗi yêu quý nên đã cho ra được ca khúc “Đêm tàn Bến Ngự”.

Trong số hàng ngàn bài hát về Huế, tôi cho rằng bài của ông nằm trong tốp mấy chục bài rõ chất Huế nhất và hay nhất. Chắc chắn người dân Huế phải rất yêu thích bài hát này nên tên ông mới được đặt cho một đường phố tại Huế. Nghe kỹ cả bài, khó nghĩ tác giả lại không là người Huế mà là người Bắc: “Ai về Bến ngự cho ta nhắn cùng. Nhớ chăng non nước Hương Bình có những ngày xanh lưu luyến bao tình, vương mối tơ mành…”.

Tác giả cho biết khi viết bài này, ông đang ngồi thuyền dạo chơi trên sông Hương nhưng đã nhập vào tâm thế người đi xa nhớ về Bến Ngự, về Huế mà giãi bày cõi lòng và nghĩ đến một ngày phải rời xa nơi đã lưu giữ bao kỷ niệm tâm hồn sâu sắc của mình. Bài hát thấm đẫm âm hưởng các làn điệu dân ca đặc trưng của Huế, gợi hình ảnh con sông Hương thơ mộng nhưng cũng đượm vẻ u buồn cố hữu ngàn năm một cách thật sinh động.

Ông cũng kể lại tình huống cụ thể viết ra bài hát: Sau một thời gian sống ở Huế, ông quyết định vào Sài Gòn cư trú. Trước phút chia tay, bạn bè có tổ chức một bữa tiễn ông. Rượu và các món nhậu được bày trên thuyền đi dạo trên sông Hương. Khi đêm đã về khuya, các bạn còn đang vui vẻ nhậu, ông ra mũi thuyền ngồi ngắm trăng một mình, miên man cảm xúc. Rồi ý nhạc bật ra. Ông vội ghi nhanh vào một mảnh giấy rồi quay vào hát cho các bạn nghe. Ai cũng tán thưởng, thích thú.

Tôi có may mắn được dự một số buổi sinh hoạt âm nhạc của Việt kiều ở nước ngoài khi đặt chân tới đó thì thấy Dương Thiệu Tước là một trong những nhạc sĩ “tiền chiến” luôn có nhiều bài được các ca sĩ hải ngoại biểu diễn, nhất là trong những dịp đại nhạc hội. Có lẽ cái chất dân tộc sớm chan chứa trong các ca khúc của ông ngay từ thời tân nhạc Việt Nam đang còn chịu ảnh hưởng nhiều của âm nhạc Tây phương đã khiến tác phẩm của ông có sức sống lâu bền.

Nguyễn Đình San
.
.