Cầu vồng Hiền Lương
Sông Bến Hải. Chiếc cầu sắt lịch sử - hiện vật ghi dấu thời đất nước bị chia cắt đôi miền - đã được phục chế. Nằm song song cạnh nó là chiếc cầu ximăng vĩnh cửu đẹp như một khuông nhạc vừa được khánh thành cách đây tám năm. Chiếc cầu vồng bảy sắc màu lung linh bắc qua dòng sông ẩm ướt.
Chiều đầu thu. Lớt đớt cơn mưa áp thấp nhiệt đới chưa ngưng tạnh. Cô em phóng viên đi cùng tôi vốn gốc Phú Thọ loay hoay tìm góc độ bấm máy. Xinh xắn, cái môi cắn chỉ hơi mím lại thoảng chút run run vì xúc động. Bức ảnh nay mai của em sẽ có ba chiếc cầu Hiền Lương: hai thực và một ảo. Cái thực là chứng tích hùng hồn của những giai đoạn lịch sử, như máu và mồ hôi kết tinh lại; cái ảo là khúc xạ của đau thương và khát vọng bởi trên khúc sông này đã từng tồn tại một chiếc cầu ván có hai màu sơn, hai màu cờ đối lập… Chiếc cầu ấy đã bị tàn phá bởi bom đạn của Mỹ giội không tiếc xuống vùng đất vĩ tuyến 17 này trong thời chiến tranh khốc liệt và vừa được Quảng Trị dựng lại trong quần thể di tích lịch sử “Đôi bờ Hiền Lương” như đã nói ở trên.
Tôi không nhắc lại lịch sử. Lịch sử vốn khái quát và cô động ngàn lần so với hiện thực cuộc sống bề bộn chứa đựng nhiều tầng vỉa. Tôi chỉ muốn nói với em rằng ở đây, vâng, ở đây - nơi mảnh đất một thời là đầu cầu giới tuyến này đã có bà mẹ Vĩnh Linh đêm đêm cặm cụi ngồi vá cờ Tổ quốc, cô dân quân Vĩnh Linh dùng súng trường bắn cháy máy bay Mỹ, đội thuyền Vĩnh Linh vượt sóng gió, đạn bom tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ và những đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời từ địa đạo Vĩnh Mốc, Vĩnh Linh… Những con người ấy có tên tuổi cụ thể, nhưng thôi, em cứ gọi họ là người Vĩnh Linh, là người Quảng Trị, bởi lẽ ai đã sinh ra trên mảnh đất dữ dội này đều có thể làm được những điều như thế.
- Người Quảng Trị, nếu phải nói thật ngắn gọn về họ, anh sẽ nói ra sao? - Nơi “vết thương xưa” cô phóng viên đặt cho tôi một câu hỏi.
- Muốn sống cho người khác, đó là người Quảng Trị - Tôi buột miệng - Vợ tôi đã sống cho tôi, tự nguyện gánh vác những vất vả thiệt thòi của vợ một người lính quanh năm biền biệt xa nhà gần chục năm trời trong thời bình. Vượt qua những cám dỗ, mời gọi của cuộc sống xô bồ, nhiều nghiêng ngả như hiện nay đâu phải là chuyện dễ…
- Thời nào, người phụ nữ cũng phải chịu đựng nhiều gian khổ hơn cả - Cô phóng viên khẻ thở dài - Hơn nữa, ở đây, nơi miền đất thiên nhiên khắc bạc dữ dội, nơi chiến tranh còn để lại nhiều hậu quả nặng nề thì sự gian truân còn nhân lên gấp bội.
Cô phóng viên nói đúng. Mảnh đất Quảng Trị này gánh nhiều đau thương lắm. Gánh cho mình và còn gánh cho cả nước. Ngược dòng Bến Hải lên thượng nguồn sông, ta sẽ tận mắt thấy một phần của sự hy sinh, mất mát lớn lao của nhân dân và chiến sỹ trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ vừa qua. Khói hương cho liệt sỹ ngàn ngạt quanh năm trên dải đất này, không thể ít hơn một tỉnh nào trên Tổ quốc ta.
Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn là nơi yên nghỉ của 10.327 người con ưu tú của đất nước đã từng sống, chiến đấu, lao động và ngã xuống trên con đường mang tên Bác. Những người lính bất tử ấy đã cùng đồng đội chịu đựng 7.526.700 quả bom của Mỹ ném xuống núi rừng và từ đôi bàn tay rớm máu, sần chai của họ, 16.000 cây số đường chiến lược đã được mở ra ngang dọc trên trùng điệp Trường Sơn. Vẫn còn khoảng 10.000 liệt sỹ nữa vẫn còn nằm đâu đó trong các nẻo rừng già chưa được về cùng đồng đội thân yêu. Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn có rất nhiều điều huyền diệu nhưng lạ nhất là cây bồ đề cao lớn tốt tươi ôm trùm lấy tượng đài Tổ quốc ghi công. Anh em quản trang kể lại rằng cây bồ đề ấy không do ai trồng cả, tự nhiên mọc lên, vùn vụt cao lớn, chỉ sau ba mươi năm đã trở thành đại thụ vạm vỡ xanh tươi bốn mùa.
Lại còn thêm một Nghĩa trang liệt sỹ Đường Chín với số mộ cũng trên một vạn và nằm bên sông Thạch Hãn là một Thành cổ không ai biết rõ còn bao nhiêu xương cốt chiến sỹ ta bị vùi lấp trong tám mươi mốt ngày đêm rung động của mùa hè đỏ lửa 1972. Cách đây vài năm, theo tài liệu của Hội Cựu chiến binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam VVA, tại thôn Tân Tường, xã Cam Thành, huyện Cam Lộ, cạnh đường Chín (tọa độ 57700 -11100) ta đã khai quật một hố địch chôn 80 liệt sỹ của ta. Gần đây nhất tại thị trấn Cam Lộ, khi đào móng làm nhà, nhân dân đã phát hiện ra mấy hài cốt bộ đội ta, chính quyền và cơ quan quân sự địa phương đã tổ chức khai quật tìm được 80 liệt sỹ đã hy sinh trong Tết Mậu Thân 1968…
Mảnh đất này chính là chứng tích của sự hy sinh to lớn của dân tộc ta trong cuộc chiến tranh giải phóng Tổ quốc vĩ đại nhất. Một tỉnh hẹp về diện tích, không đông dân số nhưng lại có đến hai nghĩa trang liệt sỹ quốc gia, nhiều di tích lịch sử chiến tranh nổi tiếng. Cũng chính vì vậy mà không thể không nói rằng cầu Hiền Lương - Quảng Trị chính là biểu tượng sinh động của sự thống nhất đất nước.
Còn nhớ cách đây mấy năm, tôi được tạp chí Văn nghệ quân đội cử đi công tác ở Hà Giang. Chúng tôi đến bản Tả Kha, một bản nằm sát biên giới Việt - Trung nhấp nhô những mái nhà tường chình đất, mái lợp ngói ống màu xám, dân cư chủ yếu là người Mông. Khi thấy đồng chí sĩ quan phiên dịch của Đồn biên phòng Phó Bảng và chúng tôi bước vào nhà, chủ nhân Vàng Mí Dính đã à lên sung sướng như được gặp lại người thân thiết. Bốn bát rượu ngô sanh sánh chực tràn ra khỏi vành miệng, dậy mùi khói ê ê không thể không uống cạn được khi chủ nhà khẩn khoản đặt vào tay từng người với câu mời sơn cước: “Mình có hai cái tay, hai cái chân, như vậy là bốn. Gặp nhau phải uống cạn bốn bát mới là anh em, bộ đội ạ.”--PageBreak--
Khi chất men đã thắp hồng màu lửa trên má, Vàng Mí Dính cầm tay tôi nói:
- Vợ con bộ đội ở Hà Nội à?
- Tôi ở Hà Nội, một mình thôi. Không được ở gần vợ như Vàng Mí Dính đâu. Vợ con mình hiện nay đang ở Quảng Trị. Vàng Mí Dính có biết Quảng Trị không?
Bỏ lửng câu trả lời, Dính đi ra ngoài, vài phút sau lật đật đi vào, trên tay cầm một lá ngô. Anh đặt chiếc lá ngô lên bàn, tay chỉ vào đầu ngọn lá giọng ề à:
- Đây là chỗ mình ở, Phó Bảng, Hà Giang. Còn đây - bàn tay sần sần ám khói của Dính đặt vào giữa lá ngô - Đây là Quảng Trị, Quảng Trị… nơi vợ con bộ đội ở, đúng không?
Bất ngờ và xúc động quá, tôi chỉ còn biết cầm tay Vàng Mí Dính lắc lắc. Trầm ngâm nhìn ra cây sa mộc đứng trước nhà, Vàng Mí Dính nói, giọng nhỏ lại:
- Anh trai mình ở Quảng Trị đó!
Tôi sững sờ hỏi Dính:
- Anh ấy đang làm gì ở Quảng Trị?
Đôi mắt nâu trong trẻo chợt buồn, Dính chầm chậm trả lời:
- Anh mình không còn làm được nữa. Anh ấy chết rồi, chết năm bảy hai ở Quảng Trị. Chưa tìm được đâu bộ đội à!
Trong lòng đất Quảng Trị còn ôm ấp biết bao xương cốt liệt sỹ như thế. Những con người chưa đi hết tuổi thanh xuân đã nằm lại với miền đất có bảy tháng gió Lào thổi như bão khan này. Hồn thiêng của hàng vạn liệt sỹ, phần lớn còn độ tuổi thanh niên đã xanh lên đất lên trời, rì rào trong cây lá và lẽ nào lại không được phép tin rằng đã hiển hiện trong bảy sắc cầu vồng như là ứng nghiệm diệu linh của sự bất tử. Chiếc cầu vồng chiều nay bắc qua sông Bến Hải góp mặt cùng với chiếc cầu sắt, cầu ximăng, trong một khoảnh khắc thu đã tạo nên vẻ đẹp huyền ảo cho Hiền Lương. Vẻ đẹp bi tráng của sự vẹn nguyên, nối liền, không bao giờ chia cắt được bắt đầu từ Lũng Cú đến Cà Mau qua Bến Hải - Hiền Lương - Quảng Trị.
Thế kỷ hai mươi đã ở sau lưng ta với những biến cố lịch sử dữ dội và tàn khốc nhưng khát vọng sống hòa bình, sống tự do, sống hạnh phúc, sống đẹp từng xuyên suốt hành trình nhân loại vẫn tiếp tục là mục tiêu vươn tới của con người trong thế kỷ hai mươi mốt và mãi mãi. Về Quảng Trị, đi qua những địa đạo Vĩnh Mốc, cầu Hiền Lương, bến đò Tùng Luật, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Thành cổ, nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sỹ Đường Chín, làng Vây, sân bay Tà Cơn, Khe Sanh,… tôi day dứt tự hỏi rằng liệu con em chúng ta, những công dân thời hậu chiến có lãng quên quá khứ máu lửa mà ông cha mình đã lăn lốc trải qua đằng đẵng mấy thập kỷ binh đao. Trong con mắt họ, những cuộc kháng chiến đó là gì và sự ngã xuống của hàng triệu con người áo vải, chân đất vì những giá trị cao đẹp vĩnh hằng của dân tộc liệu có được ghi nhận và đánh giá xứng đáng?
Trong chiều thu Hiền Lương, trước bảy sắc cầu vồng, tôi đã đặt câu hỏi ấy cho em - cô phóng viên quê gốc Phong Châu - có tuổi khai sinh là mùa xuân đại thắng.
Cái môi cắn chỉ hé mở một nụ cười duyên, cô nói:
- Em sẽ trả lời câu hỏi của anh nhưng trước hết anh hãy nói cho em biết thế hệ các anh đã bao giờ quên các Vua Hùng, Ngô Quyền, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…chưa? Những người mở nước và những người đánh đuổi giặc ngoại xâm để giữ nước các anh đã bao giờ quên chưa? Trong lòng dân, họ đã được phong Thánh, phong Thần, họ được muôn đời thờ tự, tưởng nhớ khôn nguôi và em nghĩ tổ tiên ông cha luôn độ trì phù hộ cho con cháu muôn đời. Thế thì dù cho thời cuộc có biến động thế nào thì những ai đã ngã xuống trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược vừa qua, những ai đã cống hiến cho nền độc lập tự do và hòa bình của dân tộc mãi mãi sẽ được kính trọng tôn thờ. Nhưng mà, tại sao em lại nói với anh những điều to tát vậy. Thôi, để em đi xuống sông một tý. Em muốn được một lần rửa mặt bằng nước sông Bến Hải anh ạ.
Tôi nhìn theo cái dáng mảnh mai của cô em phóng viên, bạn đồng hành trong chuyến đi về những dấu tích thiêng ở Quảng Trị, đang từ từ đi xuống mép sông. Chiếc cầu vồng nối đôi bờ Bến Hải đang mờ dần, mờ dần và có lẽ chỉ ít phút nữa thôi nó sẽ tan biến vào hư vô như chưa bao giờ xuất hiện lộng lẫy đến như thế. Trên khúc sông lịch sử này chỉ còn lại hai chiếc cầu thực. Một chiếc cầu là hiện thân của quá khứ mới được phục dựng. Một chiếc cầu là công trình hiện đại được xây dựng trong thời đất nước thanh bình, thời đổi mới. Nhưng trong bức ảnh của cô phóng viên vẫn có đủ ba chiếc cầu, hai thực và một ảo. Cầu vồng Hiền Lương là cái ảo đã được lưu giữ lại như ánh sáng linh hồn của những người đã khuất chiếu rọi qua triệu triệu giọt mưa thu…
