Bóng ngựa dưới trăng mờ

Thứ Năm, 26/02/2026, 14:54

Đêm ấy đã khuya, ông Chương thấy một vùng ánh sáng chói lóa xuất hiện, gọi mời. Ông ngồi dậy, dắt con ngựa đi như bị sai khiến. Một thảo nguyên mênh mông đẹp như trong cổ tích hiện ra trước mắt. Hình như, đang là buổi sáng, vì ông ngửi thấy mùi nắng mới và có tiếng gió bên tai. Ông vừa đi vừa nghĩ. Con ngựa chợt hí lên rồi tung bờm phi nước đại.

1.Một đêm nọ, ông Chương thấy con ngựa trở về. Nó ngoan ngoãn nằm phủ phục dưới chân dốc Đá. Mắt nhắm nghiền, lặng im. Kiệt sức hay hối lỗi? Chờ đợi điều gì hay muốn gây chú ý mong được tha thứ, yêu thương? Biền biệt gần một năm rồi còn gì. Cái chuồng trống, mấy thân gỗ mục hết rồi...

Ông Chương giấu nỗi vui, cố tình phớt lờ rồi khoan thai bước xuống từng bậc đá. Bỗng, hụt chân. Bóng ngựa tan biến. Chỉ bao la khoảng rừng thinh vắng. Chỉ bóng trăng lênh láng núi đồi. Chỉ khoan nhặt tiếng chim từ quy trong vòm đêm thăm thẳm...

Rồi, con ngựa trở về thật. Sau đấy ít ngày.

Bóng ngựa dưới trăng mờ -0
Minh họa: Đặng Tiến

Ông Chương mừng như đứa trẻ được quà. Cứ quýnh quáng, chạy ra chạy vào, không biết làm việc gì trước, việc gì sau. Con ngựa đứng bên hàng rào ken dày những bụi cây mọc đầy gai nhọn, ngơ ngác cặp mặt đỏ quạch. Hình như nó bị thương.

Con ngựa trở về vào cái thời điểm khí hậu biến đổi bất thường. Nắng nóng như muốn thiêu rụi cánh rừng. Suối to khe nhỏ đều khô dòng, cạn đáy. Đồi hoang cỏ lụi, một tàn lửa nhỏ có thể bùng lên đám cháy, rồi cứ thế lan ra. Nguồn thức ăn cho ngựa dĩ nhiên cạn kiệt. Ông Chương lầm lũi đi thật xa kiếm từng ống nước. Mãi chạng vạng, mới mệt mỏi trở về. Con ngựa vẫy đuôi mừng, nhìn ông chủ hom hem, gầy đen như khúc cây cháy dở. Đôi mắt nó ươn ướt. Buồn xốn xang...

- Mình lẩn thẩn quá rồi! Ông Chương lắc đầu, xua đi suy nghĩ vừa lướt qua đầu.

- Nó là con vật thôi mà. Nó đến với mình cũng là cái duyên, cái số!

Ông Chương không thể nào ngừng suy nghĩ. Những gì xảy ra trong quá khứ mồn một quay về. Bạn đồng ngũ thân thiết, trước lúc hy sinh kịp dúi vào tay ông những kỉ vật. Cánh rừng mùa thay lá, ban đêm đom đóm thắp sáng như sao trời... Ngày ông trở lại vùng bán sơn địa này, hành trang là những thứ không thể quên, khó rời xa thì con ngựa cũng được mua về từ nhóm người buôn động vật. Khi nó sắp bị cẩu lên xe đưa đi. Ông ôm cổ nó. Nó thúc nhẹ vào sườn ông rồi quỳ hai chân trước xuống tạ ơn. Ông Chương cảm giác con ngựa đã quen biết, thân thiết lâu rồi.

Con ngựa quấn chủ lắm, ông Chương đi đâu làm gì, nó cũng theo sau. Thế nên, khi con ngựa mất tích, ông Chương cũng nghĩ nó vô tình đi lạc hay bị ai đó bắt nhốt chứ không thể bỏ ông rong ruổi đó đây. Khi con ngựa trở về trong dáng hình tiều tụy, gầy nhom lại thương tích, ông nghe đau từng khúc ruột rồi lặng lẽ vào rừng tìm lá thuốc nhẹ nhàng băng bó vết thương cho nó.

2.Ở vùng núi này, lúc trời chuyển dông, bao giờ cũng dữ dội cả. Gió rượt đuổi ầm ào. Rồi sục sạo khắp nơi. Từ thung sâu đến đồi cao, đều bị quăng quật, tả tơi cả. Trên không trung mây đen ùn ùn kéo đến. Chim muông hoảng hốt, bay loạn. Nhưng, lạ thay, có hôm dông gió điên cuồng là vậy lại không thấy hạt mưa nào. Cảm giác không khí sau đó cứ bí bách và ngột ngạt làm sao. Ông Chương lọ mọ từ hang đá về căn lều của mình. Con ngựa thồ hai bao tải nặng. Ông già lúi chúi theo sau.

Khoảng đất cũ trống hoang, chỉ còn lại khóm cây sầu đâu mọc dại xác xơ cành lá. Căn lều nhỏ che nắng che mưa suốt mấy năm qua bị gió bứng bay tứ tung. Ông Chương nghe nhói lồng ngực, ho lên mấy tiếng. Nhưng, không khóc được. Cảm giác nước mắt vón lại, cứ ầng ậng. Hình ảnh trận càn năm xưa. Lán trại và bệnh viện dã chiến. Những thương binh dìu cõng nhau dưới trận mưa bom. Ông thoát nạn nhờ một tảng đá to án ngữ...

Ông Chương ngồi bất động nhìn về phía dốc Đá. Trên tảng đá to nép bên cây mai anh đào còn sót vài vệt máu thẫm đen. Không thể nào, chỉ là ảo giác? Hơn năm mươi năm, lại mưa tuôn nắng xối thì còn sao được? Ông Chương nghe nhói trong lồng ngực. Vết thương cũ tái phát chăng? Không thể nào! Hay triệu chứng của cơn sốt vẫn hay trở lại thường niên? Vẫn không phải! Có tiếng động cơ của máy bay phản lực rú lên giữa điệp trùng núi rừng.

Ông Chương bất ngờ bật dậy như vừa nghe hiệu lệnh, nhìn thẳng về dòng sông Đăk Bla. Một dải lụa xanh khổng lồ vắt ngang chiều chạm vào mắt ông. Mảng kí ức chắp nối nhưng đẹp lung linh sáng lên trong nỗi nhớ hay niềm vui gặp lại đồng đội một thời đã khiến ông Chương phấn chấn? Có lẽ cả hai.

Ông Chương nhìn như thôi miên. Dòng sông độc đáo ấy, trong mắt ông và đồng đội, không chỉ thú vị ở việc chảy ngược mà còn thấm đẫm máu và nước mắt của bao người trong chiến dịch mùa hè đỏ lửa. Ngày ông và đồng đội gặp lại, cùng nhau về chiến trường xưa, đi tìm mộ liệt sĩ, cả nhóm lặng im bên bờ sông, nhìn về thượng nguồn, đoạn dưới bến Lau, cứ đêm khuya những cánh quân Giải phóng đã bí mật vượt sông.

Mặc bom đạn kẻ thù cày nát bãi bờ, rải xuống nước nghe rào rào như mưa trút. Ngày ấy, ông không thể quên, dòng Đăk Bla sục sôi khí thể bằng màu nước ngầu đục phù sa cùng bộ đội áp sát vào nội ô. Mỗi khúc sông là một câu chuyện về những người đã từng gắn bó, chiến đấu và hy sinh. Ông nhớ nhất vẫn là chuyện về lão ngư người Xê Đăng đánh cá trên dòng sông. Người đã nhường cơm, sẵn sàng che giấu cán bộ và gồng lưng cho thuyền ngược dòng để đưa bộ đội về nơi an toàn...

3.Một người một ngựa vào rừng. Đi xuyên qua những vũng nắng, vượt qua những con dốc uốn lượn. Trước mắt ông Chương là ngọn núi mờ xa tưởng chừng ngủ vùi trong sương lạnh. Những cánh rừng già mới đây trơ trụi cành. Những thảm lá vàng còn êm ái dưới chân. Ông đưa ngựa đi dọc con suối. Hơi lạnh phả vào người. Con ngựa rung bờm, nghe ngóng. Ông ngước mắt nhìn tán lá xanh ngời sáng dưới ánh mặt trời. Những cây cổ thụ được đánh dấu. Cánh rừng này ông từng đồng hành cùng những mùa thay lá, những lần hành quân xuyên đêm.

Sau này trở lại, ông vào rừng tìm nấm, tìm măng. Đôi lần, ông trầm ngâm trước cánh rừng nguyên sinh có nhiều loài gỗ quý phải chấp nhận những vết chém đau thấu, những miếng vá loang lổ, những khoảng trống mà hàng chục năm nữa cũng chưa bù đắp được. Ông già đã can ngăn, ban quản lý rừng đã vào cuộc rốt ráo. Cũng tạm yên nhưng cái lều của ông bị đốt, như một lời cảnh báo, hăm dọa. Ông Chương từng đi vào sâu trong rừng, ngước mắt cầu nguyện thần Rừng, thần Núi. Những tín ngưỡng, những tập tục ngàn đời của con người đã khiến ông tin vào thần linh.

Nơi ông Chương đang đứng là một cao điểm. Nơi đây, chỉ cái tên thôi, mỗi lần nhắc đến, ông và đồng đội còn may mắn trở về đều thấy thương xót lẫn tự hào. Bởi, đấy là điểm chốt chặn, án ngữ con đường độc đạo, nơi diễn ra những trận đánh sinh tử.

Ông Chương hất cao chiếc mũ rộng vành rồi dò dẫm, rẽ lối từng bước lên đỉnh đồi, đứng giữa những bụi cỏ tranh trổ hoa trắng muốt. Ông nhìn bao quát, cố gắng định vị cửa hầm cũ nằm chỗ nào. Nhưng, không tài nào nhớ ra bởi những hố bom năm xưa giờ chỉ còn là rải rác những lòng chảo nông choèn, có chỗ thoai thoải, phủ đầy lá khô và củi mục. Ông nhắm mắt lại. Một trận gió mạnh lướt qua, lá vàng đổ xuống hàng loạt, có những chiếc nhẹ quá bị gió cuốn đi xa, thoảng bên tai, xao xác. Ông Chương rùng mình, ngước nhìn, chập chờn trong suy tưởng.

Vùng đất này vào những buổi chiều nắng vàng óng ả trải khắp cung đường uốn lượn từ Tu Mơ Rông về cửa khẩu Bờ Y trông thật nên thơ và lãng mạn. Cái nắng cái gió nơi đây thật khác lạ, dường như chẳng ở đâu có được. Có người từng nói vậy. Nắng có thể phủ bạc mái đầu, nung đỏ những chiếc lá xanh khiến nó ngả vàng rồi rụng rơi trong yên lặng. Mưa có thể tắm tưới núi đồi, khiến những sắc hoa đồng loạt vươn mình.

Đặc biệt hơn cả những mùa cây thay lá lại mang lại cho con người cảm giác vừa hoang hoải vừa trầm lắng lại vừa chừa ra một khoảng lặng để họ sống chậm trong từng nghĩ suy. Nhiều lần, đơn vị hành quân dưới những cánh rừng khộp bắt đầu trút lá bỏ lại những cành cây trơ trụi giữa màu hoàng hôn đẫm tím. Mỗi bước chân đi, tiếng lá khô giòn tan, vỡ vụn khiến lính trẻ vu vơ nhại theo một điệu nhạc quen. Đường xa, mỏi mệt, có nhiều người cúi xuống chống hai tay lên gối, thở nhưng vẫn nhoẻn miệng cười bởi một áng mây xanh.

Ông Chương thất thểu, dò dẫm xuống chân đồi. Con ngựa hiểu chuyện cúi đầu bên hông chủ.

4.Màn đêm đen đặc, ông Chương lọt thỏm giữa sương và gió. Ngọn đèn bão chao nhẹ ở cửa lều. Ông cứ lặng im nhìn vào khoảng không trước mặt, ánh mắt hướng về phía thung lũng đầy cỏ lau, cách mấy cánh rừng và vài dãy núi.

Ông từng kể cho chính quyền nghe, nói thêm với cán bộ ở trạm kiểm lâm, nơi ấy trước đây là một ngôi làng, nhà ông ở đấy. Nhưng rồi trận lũ lớn xảy ra, chỉ sau một đêm, những ngôi nhà gỗ xinh xắn nằm cạnh nhau đã không còn nữa. Một cảnh tượng đầy bùn và sỏi đá, chỉ ngoi ngóp, lơ thơ mấy cây cao và vài ngôi nhà nằm ở lưng chừng dốc. Dãy núi vây bọc thung lũng, che chở cho làng, là niềm kiêu hãnh khi người ta nhắc về nó cũng lở loét từng mảng lớn, nhiều vết nứt dài lộ thiên. Những người sống sót phải đến nơi tái định cư chứ không dám ở chỗ cũ nữa. Còn ông Chương thì phải ra đi sau nhiều lần trằn trọc, nghĩ suy.

Cứ thế, ông lặng lẽ trong đêm khi trí nhớ chợt lóe lên một cánh rừng, một dãy núi, một ngôi làng mà ông và đồng đội từng gắn bó trong những năm quân ngũ. Trong chiếc ba lô ông mang sau lưng, ngoài vật dụng cần thiết, ngoài số tiền dành dụm được, là những kỉ vật của một đồng đội. Ông thấy phấn chấn hẳn lên khi chân vừa đến bìa rừng quen thuộc. Xung quanh tịnh không một bóng người. Ngoảnh đầu nhìn lại chỉ thấy những ngọn đèn mờ nhạt ở một làng xa xa.

Cuộc sống dần ổn định. Ông Chương là người chịu khó, biết vỡ đất hoang, biết cho cây ra hoa kết trái. Dù khí hậu vùng này mưa nắng thất thường, dù hoa màu canh tác chưa được nhiều nhưng ông luôn cố gắng. Ông Chương từng đứng ngẩn ngơ trước rẫy bắp bị khỉ phá nát. Ông tiếc rẻ cõng mấy bắp ngô còn sót lại về treo ở xó bếp, ông còn đi cắt từng bó cỏ về phơi khô dự trữ trên mái lều...

Những cơn mưa ở núi rừng thì dài lê thê và buồn rưng rức. Căn lều nhỏ, bừa bộn nghĩ suy, ngọn đèn bão leo lắt không đủ đưa ông băng qua triền đồi đầy gió lúc hoàng hôn. Tiếng con chim lạ có giọng hót quen thường cất lên vào lúc chạng vạng. Hiệu lệnh chắc đanh của chỉ huy trưởng. Tiếng súng khô giòn từng loạt. Có ai đó xốc ông chạy về phía hầm... Ông hay mê sảng và trở dậy mỗi đêm khuya, ngồi dán mắt vào màn đêm.

5.Mùa đông năm nay đến sớm, lại có vẻ lạnh hơn. Trên mấy đỉnh núi cao, nhiều buổi sáng, mây trắng như tuyết rơi đầy. Ông Chương kiếm thêm lá rừng chằm vách thưng giữ ấm cho ngựa, đêm nó đứng nhai cỏ, nghe rõ tiếng thở, ấm sực. Căn lều cũng lợp thêm tấm nilon dày. Mỗi đợt gió qua, cứ phập phồng sột soạt.

Ông Chương hay xuống mé suối vào tầm trưa. Ở đó có cỏ non hơn. Ở đó có thể bắt được vài con cá nhỏ mắc vào khe đá, nước rút thoát không kịp. Con ngựa đôi khi cũng theo chủ, cứ đủng đỉnh, thong thả. Ông Chương nghiêng vai cõng bó cỏ, ít khi đặt lên lưng ngựa, trừ khi là khúc gỗ bọn lâm tặc vứt bên bìa rừng.

Phía trước căn lều dựng tạm là dốc đá và con đường mòn, ông Chương có thể đi đến nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người. Nhất là vào mùa thu hoạch, tiếng người gọi nhau í ới, thỉnh thoảng tiếng sáo cất lên giữa bát ngát núi đồi.

Cũng từ dốc đá này, ông Chương có thể đi về làng, thấy được khói bếp bay lên quyện vào mái ngói âm dương xỉn màu thời gian. Trong niềm hân hoan của lễ hội mừng lúa mới, khi mùa xuân đã phơi phới sắc hoa mai anh đào, ông ngồi bên bếp lửa, thảnh thơi châm điếu, thỉnh thoảng nhìn ra ngoài trời, ánh mắt không rời những đám ruộng bậc thang ngả vàng trong màu nắng mới.

Nhưng, ông Chương đã chọn con đường ngược núi, lên rừng. Ông chưa thể về chốn cũ, sợ cảnh xưa khơi lại nỗi đau? Không hẳn vậy, bởi trong ông còn nhiều giằng xé lắm. Trong bóng đêm số phận, kí ức đôi lần khiến ông gục ngã nhưng rồi chính ánh mắt thẳm sâu của con ngựa, chính thảo nguyên ngút ngàn cỏ xanh bên kia cánh rừng nguyên sinh đã vực dậy. Và, mỗi lần như thế, ông ôm chặt chiếc ba lô.

6. Ông Chương xốc liên tục chiếc bao tải sau lưng vì cảm thấy nó cứ tụt dần. Đôi tay mỏi nhừ, tê cứng. Đã qua ba cái dốc cao, nghĩa là gần về đến lều. Phải cố gắng thôi, so với năm xưa luồn rừng xẻ núi thì sá gì, ông nhủ lòng và dấn bước. Nhưng, hai chân mỏi lắm rồi, mồ hôi rịn ra, lưng đẫm ướt. Chiếc bao tải nặng dần, kéo mãi xuống, khiến ông muốn khuỵu chân.

Giá như hôm nay ông đừng đi quá sâu vào rừng, lại lội qua mấy con suối. Giá như có con ngựa đi cùng, thế nào nó cũng thồ cái bao tải đầy măng này giúp ông. Hôm qua con ngựa chẳng may trượt chân ngã hố, chân sưng vù. Giờ này chắc đã đói và chờ chủ về.

Ra đến cửa rừng, ông Chương lại dừng nghỉ. Đang vào mùa khô. Con suối chảy qua làng cũng trơ đáy. Rừng đồng loạt ngả một sắc vàng thau. Mấy đồi núi trọc đá sỏi gồ lên, bụi đỏ bốc cao theo gió... Mấy đám rẫy đốt dở, cành khô ngổn ngang. Ông Chương cố bước nhanh khi mặt trời đỏ rực như quả cầu lửa dần dần xuống núi.

Qua khỏi cầu đá, ông gặp một nhóm người làng cũng đi rừng về. Họ gật đầu chào ông rồi bước nhanh đi. Lúc này, trời đã nhọ mặt người, sương rơi đẫm mặt. Ông Chương chuẩn bị xốc bao tải lên vai thì cảm giác đầu óc mình rơi vào trạng thái ảo ảnh. Ông đứng tựa vào thành cầu và vô cùng ngạc nhiên, không tin vào mắt mình nữa. Từ trong rừng, một bóng người chống gậy chậm chạp hướng về phía ông. Lúc đầu ông Chương thấy sợ nhưng cố giữ bình tĩnh, đưa mắt đối diện. Thì ra là cụ Y Bông, một người mẹ liệt sĩ. Đứa con trai duy nhất của cụ là A Pơt hy sinh trong chiến dịch Đăk Tô - Tân Cảnh.

Ông Chương đứng lặng vì quá bất ngờ khi gặp lại ân nhân năm xưa. Chính cụ Y Bông đã đưa cả tiểu đội thoát hiểm khi bị địch vây hãm. Cụ đã cùng dân làng tiếp tế muối, gạo và dẫn đường cho bộ đội luồn sâu vào căn cứ địch... Ông Chương rưng rưng, xúc động cố rướn người về phía cụ Y Bông. Ông muốn nắm lấy đôi bàn tay nhăn nheo đã từng đào củ mì, củ khoai nấu cho bộ đội ăn, khi ông bị thương cũng chính đôi bàn tay ấy băng bó, chăm sóc. Nhưng, ông vội rụt tay lại khi vừa chạm phải những ngón tay lạnh cóng, run run của bà cụ. Có lẽ, do sương hôm nay nhiều quá. Ông Chương trấn an mình. Chợt, cụ Y Bông cất giọng:

- Con ngựa ấy vẫn hay về núi này!

- Con ngựa nào ? - Ông Chương ngạc nhiên, tự hỏi rồi ngước mắt nhìn bà cụ đang loay hoay với chiếc gậy trong tay.

- Con ngựa ô có đốm trắng hình hoa mai giữa trán đấy!

Lời cụ mỏng tang, nhẹ như khói.

- À, thì ra... - Ông Chương thở phào. Có lẽ, cụ đang nói về một con ngựa khác. Còn ngựa của ông mua về nuôi là con ngựa trắng cũng có đốm lông màu nâu nhạt giữa trán. Có lần mấy cán bộ kiểm lâm ghé chơi, uống trà, bảo bạch mã là giống quý. Ông cũng báo với cấp trên về con ngựa này nhưng đợi mãi... Có người còn bảo, mất con ngựa, ông già làm sao sống nổi!

7.Mùa xuân đã về trên núi. Sáng sớm sương la đà mặt đất, chiều muộn sương quấn lấy tàn cây. Sương giăng đầy thung lũng. Sương móc khắp đỉnh núi cao. Cái lạnh cứ sẽ sàng, mơn man. Một hôm, vừa chui ra khỏi lều, ông Chương ngạc nhiên hết sức, trên các triền đồi những loài hoa dại đua nhau nở. Mùi hương dịu nhẹ lan tỏa.

Đứng ở đầu dốc, nhìn mông lung cũng nghe được tiếng chim từ cánh rừng xa tránh rét cũng đã bay về, đậu trĩu cành cây. Ông Chương cảm giác mình khỏe ra, đầy sinh lực. Ông cuốc thêm mấy khoảnh đất để trồng tỉa hoa màu. Xế chiều, ông thường vắt chiếc áo bông cũ lên hàng rào còn nắng, nhìn vất vơ đoạn đường đất đã nâng cấp thành bê tông rộng thoáng. Ông ngồi cùng chén rượu nhạt, phân bua với mọi người là ở một mình mà không có cái này buồn lắm...

Đêm ấy đã khuya, ông Chương thấy một vùng ánh sáng chói lóa xuất hiện, gọi mời. Ông ngồi dậy, dắt con ngựa đi như bị sai khiến. Một thảo nguyên mênh mông đẹp như trong cổ tích hiện ra trước mắt. Hình như, đang là buổi sáng, vì ông ngửi thấy mùi nắng mới và có tiếng gió bên tai. Ông vừa đi vừa nghĩ. Con ngựa chợt hí lên rồi tung bờm phi nước đại.

Ông thích thú nhìn theo, có lẽ từ ngày về ở với ông, con ngựa chưa khi nào vui mừng đến vậy. Nó phi nhanh rồi vòng trở lại. Có bụi cỏ bị xới tung. Có chút bụi vẩn lên sau mỗi lần giẫm đạp. Hình như có con ngựa ô nữa. Ông Chương đứng dưới tán mai anh đào nhìn theo. Hai con ngựa chạy song song, vừa nhìn nhau vừa đùa giỡn, lớp lông mượt bóng trông mềm mại mỗi khi di chuyển...

Bỗng, có tiếng động mạnh khiến ông Chương choàng dậy. Theo phản xạ, ông nhìn ra ngoài trời. Trăng mờ mịt khắp nơi. Một bóng đen lướt qua. Ông Chương đuổi theo. Phía dốc Đá, chen giữa những tảng đá lô nhô là bóng hai con ngựa đang gặm cỏ. Ông sững sờ. Trên trán hai con ngựa, cái đốm hình hoa mai phát sáng.

Hôm sau, ông Chương ôm chiếc ba lô tìm đến nhà cụ Y Bông, mới hay bà cụ đã mất gần mười năm rồi.

Truyện ngắn của Sơn Trần
.
.