Tơ duyên trong chữ

Thứ Sáu, 27/03/2026, 11:51

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Có một thực tế, trong nhiều cuốn sách tiểu luận - phê bình văn học, ta luôn bắt gặp tình trạng tác giả gom nhặt các bài viết - tiểu luận làm thành một tập. Dẫu mang một cái tên chung, thậm chí cũng chia thành chương - phần, nhưng sự rời rạc của thể loại, chủ đề đã phần nào hé lộ khía cạnh cơ học trong lao động chữ nghĩa của nhà phê bình.

Sâu xa hơn, sự cơ học nói lên những đứt quãng, những viết lách thời vụ, ít chuyên tâm một cách lâu dài của người viết vào một thể loại, một vấn đề cụ thể của đời sống văn chương. Thành ra, xét cho nghiêm ngặt, ở ta có nhiều người làm phê bình văn học, nhưng lại ít chuyên gia.

Tơ duyên trong chữ -0
PGS.TS Nhà lý luận phê bình Hoàng Kim Ngọc.

Quan sát ấy của tôi dừng lại, nơi những ý nghĩ được cưu mang bởi hành trình viết của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc. Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của chị là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Như thế, duyên chính là cội nguồn của hạnh ngộ, để mỗi tiểu luận là một câu chuyện về cuộc đời, nghệ thuật trong ý nghĩa tốt đẹp mà nhà văn, nhà phê bình đã gửi giữa nhân gian. Và, trở lại với ý nghĩ ban đầu, từ những mảnh sợi lấp lánh màu sắc tôn giáo trong “Đi tìm dấu vân chữ” (2022) qua tuyển tập “Dấu ấn Phật giáo trong thơ đương đại Việt Nam” (2025) sang "Duyên khởi đến cõi văn", Hoàng Kim Ngọc từng bước định vị mình như một chuyên gia trong nghiên cứu - phê bình văn học dưới nhãn quan tôn giáo (Phật giáo). Điều đó cần được xem là một nỗ lực có trọng điểm, có chiến lược, nhưng sau cùng lại vẫn có thể quy về mối lương duyên mà chị nhận ra trong đời sống, đọc và viết của mình.

"Duyên khởi đến cõi văn" chỉ gồm 17 tiểu luận, nhưng là những tiểu luận được viết công phu sau quá trình đọc, khảo sát, phân tích, đánh giá và rút ra được những kết luận đích đáng về tác phẩm, tác giả, hiện tượng văn học. Đừng nghĩ cứ biết chữ là đọc được, đọc ra vấn đề - cái sâu xa ẩn tàng sau hệ thống ký hiệu, mã hóa trong hình tượng, cấu trúc nghệ thuật. Đây đó, người ta thốt lên tình trạng nhà phê bình đọc không vỡ chữ, hẳn cũng xuất phát từ việc biết đọc mà không đọc được như vậy.

Ở phương diện này, Hoàng Kim Ngọc cho thấy năng lực đọc ở cấp độ tinh hoa (nhà phê bình, nhà văn vẫn được xem là người đọc tinh hoa), khi trong các tác phẩm, hiện tượng mà tác giả khảo sát, việc đọc được triển khai bài bản, lớp lang, với những thao tác từ cơ bản đến chuyên sâu, tập trung vào các phương diện chính yếu làm nên giá trị của tác phẩm.

Chẳng hạn, khi đọc tiểu thuyết "Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu" của Hồ Anh Thái, tác giả tập trung vào cấu trúc để phát hiện ra cơ chế vận hành các tầng nghĩa, các chiều cạnh và tâm điểm, các mối quan hệ kết lưới từ điểm nhìn đa bội và giọng điệu linh hoạt xác lập mô hình tự sự kim cương khá vững chắc. Có thể nói, phải đọc kỹ, rất kỹ, thậm chí phải vạch ra sơ đồ, cấu trúc, tuyến mạch..., nhà phê bình mới có thể khái quát được những nét sắc rõ như thế (Sự hấp dẫn của ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái).

Tương tự, với tập thơ "Mắt mắt khuya từng đàn" của Trần Hùng, Hoàng Kim Ngọc cũng cho thấy những mơ hồ huyền mị của thi ca chữ nghĩa không làm khó được mình. Bài viết "Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Trần Hùng" là một nghiên cứu sâu về ngôn ngữ thơ, của một người am tường ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng. Nhưng, điều quan trọng là Hoàng Kim Ngọc có phương pháp, biết cách để giao tiếp cùng những thi phẩm mà sự kín đáo của nó đôi khi làm nản chí những kẻ cạn lòng.

Và, một điều quan trọng khác, luôn xe quyện, thấm thía trong hành trình đọc - nghĩ - viết của Hoàng Kim Ngọc chính là mĩ cảm thơ ca khá tinh nhạy. Phải nói rằng, tập "Mắt mắt khuya từng đàn" không dễ đọc, bởi hệ thống ngôn ngữ, thi tứ, thi ảnh, nhịp điệu có phần khác lạ. Điều đó dễ gây hoang mang và làm người đọc lạc bước, thậm chí là ngăn trở người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của Trần Hùng.

Thế nhưng, với Hoàng Kim Ngọc, chị bình tĩnh để nhận ra một nhan đề đa nghĩa với độ loang nhòe, cộng hưởng của các trường ngữ nghĩa, sắc thái chỉ với 5 chữ trong tên tập thơ (Mắt mắt khuya từng đàn). Từ cánh cửa ấy, bước vào thi giới Trần Hùng, những kết hợp thanh âm, ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc, mang màu sắc liêu trai, siêu thực, những thủ pháp tạo nghĩa độc đáo... đã làm nên vẻ đẹp thi tính của tập thơ.

Chưa phải là tất cả, nhưng những tín hiệu mà Hoàng Kim Ngọc vạch ra, giúp người đọc có được những chỉ dấu quan trọng cho hành trình trải nghiệm thi ca của mình. Đó cũng chính là chức năng nổi bật của phê bình trong cấu trúc văn học.

Tơ duyên trong chữ -1
Tác phẩm mới của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc.

Như đã nói ở trên, duyên là mạch nguồn xuyên suốt 17 tiểu luận của Hoàng Kim Ngọc. Dĩ nhiên, tôi không làm lại công việc mà tác giả đã làm là đi khảo sát kỹ, mô tả kỹ về tín ngưỡng, triết lý Phật giáo, về các trạng thái thiền tĩnh, thiền động hay cảm thức tâm linh phong phú, tinh tế, phức tạp... hướng đến một đời sống an lạc của con người trong các tác phẩm, hiện tượng văn học.

Tuy nhiên, từ sự đậm đặc của tinh thần hiện pháp lạc trú trong thơ Việt Nam đương đại đến dấu ấn Phật giáo trong tiểu thuyết “Câu chuyện của Nàng Thê”, Tín ngưỡng tâm linh trong truyện ngắn Y Ban, tinh thần thiền và một số biểu tượng trong trường ca “Cúc”, hạnh phúc và quan niệm hạnh phúc trong “Than đỏ dưới tàn tro”... hay thưa thoáng trong các tác phẩm của Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Quang Thiều, Trần Gia Thái, Mai Văn Phấn... cho thấy nguồn dưỡng chất mang tinh thần Phật giáo, cái nhìn Phật giáo đã quán chiếu, bao trùm không gian đọc - viết của Hoàng Kim Ngọc.

Xác định được đối tượng (những tác giả - tác phẩm đích đáng), nhận diện được vấn đề, khảo sát, mô tả, phân tích các dữ kiện để chưng cất thành các kết luận vừa có giá trị khoa học, vừa có giá trị thẩm mĩ, đó là thành công nổi bật của "Duyên khởi đến cõi văn".

Ví như, khi xem xét "Dấu ấn Phật giáo trong tiểu thuyếtCâu chuyện của Nàng Thê”” (tiểu thuyết của Võ Thị Xuân Hà), Hoàng Kim Ngọc đã đi đến nhận định: “Cuốn tiểu thuyết này ít đối thoại mà nhiều tưởng tượng, điểm nhìn của người kể chuyện trùng khít với điểm nhìn của nhân vật chính xưng tôi. Đây là ngôi kể khiến nhân vật có thể đi sâu vào từng ngõ ngách của tâm hồn mình để giãi bày, đào xới nội tâm một cách chân thực nhất và rất phù hợp với nội dung của truyện là sự truy tìm bản thể của chính mình [...] Trong đời sống hiện đại, người có ý định truy tìm bản thể của mình tức là đã quan tâm đến đời sống tinh thần hơn những vấn đề vật chất tầm thường. Và, như vậy, nhân vật cũng như nhà văn đã thực sự đứng ở một cảnh giới khác, một cảnh giới cao mà người nào có duyên với đạo Phật mới được thụ hưởng” (tr. 68-69).

Trong tiểu luận "Theo dòng “Nhật ký người xem đồng hồcủa Nguyễn Quang Thiều", tác giả cũng có những phát hiện khá mới mẻ: “Ông (Nguyễn Quang Thiều - NTT) có khả năng thơ hóa những sự việc, sự kiện, đồ vật bình thường nhất và có khả năng làm mới những cái quen thuộc nhất. Gốc rễ của những bài thơ duy tình mang căn tính Việt của ông đã chạm được vào mĩ cảm của người đọc bằng lối diễn đạt hiện đại, chỉ dẫn liên tưởng đa nghĩa mang màu sắc triết lý” (tr.112).

Cũng như nhiều nhận định về các tác giả - tác phẩm khác, Hoàng Kim Ngọc luôn lần ra mối tơ xe kết giữa nhà văn, cõi văn và cuộc đời, dưới cảm quan Phật giáo. Sợi tơ ấy còn nối kết đến nhà phê bình, hình thành mối duyên chữ nghĩa, nghệ thuật mà rộng hơn là cuộc đời (trùng trùng luân hồi/ trùng trùng duyên khởi), của những con người tìm thấy nhau trong ánh sáng của niềm hạnh ngộ.

"Duyên khởi đến cõi văn" đậm đà chữ duyên là thế, nhưng không phải lúc nào sợi tơ cũng mềm mại, bền chặt. Cõi văn vốn nhiều thanh sắc, dễ làm say lòng người. Nói văn chương là bùa mê cũng đâu quá lời, khi nhà phê bình đắm chìm với các tác phẩm, mải mê tận hưởng hương sắc của đức tin, triết lý, mĩ cảm... thông qua các thi ảnh, thi tứ, hình tượng, ngôn ngữ, cấu trúc nghệ thuật... mà nhãng đi phần việc của mình.

Tôi muốn nói rằng, đôi bài tiểu luận, thao tác mô tả - như là kết quả trải nghiệm nghệ thuật nổi bật hơn là thao tác lý giải và đánh giá. Phần mô tả đã trả lời đích đáng cho câu hỏi: như thế nào? Dẫu vậy, người đọc sẽ muốn đi xa hơn khi chờ đợi nhà phê bình trả lời câu hỏi: Tại sao? (lý giải)/ Có ý nghĩa gì? (đánh giá). Có lẽ, đó vẫn là những mối lương duyên ở phía trước trên hành trình đọc và viết của/từ Hoàng Kim Ngọc.

Nguyễn Thanh Tâm
.
.