Nhà thơ Ly Hoàng Ly - cấu trúc mới của siêu thực hiện sinh
Nhà thơ Ly Hoàng Ly (con gái nhà thơ Hoàng Hưng), sinh năm 1975, tại Hà Nội, hiện sống tại TP. Hồ Chí Minh là họa sĩ thực hành nghệ thuật thị giác và viết thơ, từng làm biên tập viên tại Nhà xuất bản Trẻ.
Chị tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh năm 1999, được trao tặng học bổng Fulbright của Chính phủ Mỹ vào năm 2011, hoàn thành bằng thạc sĩ tại Học viện Nghệ thuật Chicago, Mỹ, năm 2013.
Ly Hoàng Ly thực hành nghệ thuật với đa dạng chất liệu, từ hội họa, thi ca, video, tới trình diễn, sắp đặt và nghệ thuật công cộng. Chị đã nhận được một số giải thưởng thơ uy tín trong nước, thơ được dịch ra tiếng Anh, Hàn Quốc, Pháp, Trung Quốc và có mặt trong một số tuyển tập thơ và tạp chí thơ của Việt Nam, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Pháp.
Chị là nữ nghệ sĩ thị giác đầu tiên ở Việt Nam thực hành nghệ thuật trình diễn và trình diễn thơ. Những năm gần đây, Ly Hoàng Ly đã trở thành một trong rất ít gương mặt thơ nữ đáng chú ý nhất hiện nay.
Cảm thức về hiện sinh và câu hỏi bản thể
Tôi có cảm tưởng, thơ Ly Hoàng Ly như từ chiếc bình tĩnh lặng của thời gian, rót chảy vào tâm hồn ta những giọt trong vắt của nỗi buồn khi con người phải chạy trốn vào thiên nhiên đang lụi tàn để tạm quên lãng những dằn vặt, khổ đau nơi trần thế. Ta hãy lắng nghe một cọng cỏ, một mặt hồ, một cánh hoa nhài... trong thơ chị tâm sự với ta nỗi buồn của nước và nỗi xót xa của con người. Mặc dù thơ Ly không muốn triết lý nhưng mạch ngầm dưới những con chữ lại hướng ta đến một không gian có tính triết luận về đời sống nhân sinh những tháng năm này.
Trong dòng chảy thơ Việt Nam sau Đổi mới, khi những hệ hình thẩm mỹ truyền thống dần bộc lộ giới hạn trước một thế giới nhiều biến động, Ly Hoàng Ly xuất hiện như một tiếng nói khác biệt: táo bạo, phi quy phạm, giàu ý thức thể nghiệm. Thơ chị không chỉ là biểu đạt cảm xúc mà là không gian thử nghiệm tư duy, nơi ngôn ngữ bị xô lệch khỏi thói quen cũ để tạo ra những hình ảnh mới, những cấu trúc mới và một cảm thức hiện sinh sâu sắc.
Qua các bài thơ như: "Hồ", "Mở nút đêm", "Thuật ướp xác", "Ký ức", "Một khi cỏ đã tin", "Bóng", "Thở dài", "Buồn", "Nếu chúng ta cùng thấy", "Người trong tranh", "Sóng đêm", "Nhà nghiêng" cho thấy Ly Hoàng Ly đã kiến tạo một phong cách thơ nữ đương đại độc đáo, kết hợp siêu thực, hiện sinh và hậu hiện đại, đồng thời đặt ra những vấn đề tư tưởng lớn về bản thể, giới tính, ký ức, sự tồn tại và trách nhiệm xã hội.
Một số bài thơ của Ly Hoàng Ly như những khúc độc thoại trầm mặc, đầy xúc cảm, nơi nỗi buồn hiện hình không chỉ qua cảm xúc con người, mà còn ướp vào hương hoa, ánh sáng, và từng chuyển động nhỏ bé trong đời sống.
Những bài thơ kiểu này thấm đẫm chất tượng trưng, nhẹ nhàng mà đầy ám ảnh, như một lời thì thầm về sức sống mong manh nhưng bền bỉ của cảm xúc, đặc biệt là nỗi buồn giữa một thế giới dễ trở nên vô cảm như bài thơ "Buồn" dưới đây: "Sau một đêm khóc nhòe đêm/ Hoa nhài trắng ướp sương nồng/ May mà nhài vẫn có thể buồn/ dù nỗi đau chất chồng có khiến thế gian trở nên vô cảm/ Nhài buồn/ buồn lắm/ buồn đêm nhòe sương tan thành nắng/ buồn ủ nắng/ nắng hương/ Lẩn thẩn ngắm giọt nước/ Rơi ra từ mắt/ Giọt nước trong mọng tình yêu/ Đọng nương cánh trắng / Thân thể thơm ngát/ nỗi buồn cánh nhài cánh thương trắng thương/ May mà em vẫn có thể buồn".
Thơ của Ly Hoàng Ly, ngôn ngữ thường tối giản, mềm mại, đậm chất nữ tính và có tính tượng trưng cao, mỗi hình ảnh đều gợi nhiều tầng liên tưởng và chất triết lý nhẹ nhàng, không áp đặt, mà chảy trôi như một dòng cảm xúc được gạn lọc.
Trung tâm tư tưởng trong thơ Ly Hoàng Ly là câu hỏi về sự tồn tại: tôi là ai, tôi hiện hữu như thế nào trong thế giới này, đâu là ranh giới giữa hiện hữu và hư vô. Bài thơ "Bóng" cho thấy một ám ảnh bản thể rõ rệt: "Tri kỷ của mình là bóng mình", nhưng cái bóng ấy lại chỉ được người khác nhìn thấy, còn chủ thể thì không.
Sự tách đôi giữa cái tôi và hình ảnh của chính mình gợi đến bi kịch hiện sinh khi con người luôn xa lạ với bản thân, không bao giờ nắm bắt trọn vẹn chính mình. Không gian "sa mạc không mặt trời" là biểu tượng của thế giới phi nghĩa, nơi các giá trị cũ tan rã, nơi con người bước đi không mục đích. Khi "mình và tri kỷ nhập một", mọi nhận thức biến mất, mọi chuyển động dừng lại, đó là trạng thái tan biến của cái tôi, một thứ hư vô sau khi hợp nhất với chính bản thân mình.
Thơ ẩn dụ xóa nhòa ranh giới giữa tác gia và tác phẩm
Nếu coi mỗi bài thơ cách tân là một "vật thể lạ" đến với ngôi nhà thi ca từ một thế giới khác thì phải chăng, điều đầu tiên làm chúng ta ngạc nhiên chính là bởi "vật thể lạ" bằng ngôn ngữ ấy đã làm chấn động ta, đã làm thay đổi cách nhìn của ta?
Ly Hoàng Ly trong bài thơ "Thuật xác ướp" làm ta ngạc nhiên đến mức thú vị như hơi thở lạ: "Chỉ trong đêm người đàn bà mới đẫy đà/ Chùm hoa dại ban sáng hắc nồng trên gối/ Những đốm nắng ban ngày rơi rớt hơi ấm trên nệm trắng/ Chỉ trong đêm mới cảm thấu mùi da thịt ban ngày/... Một ô cửa đầy trăng/ Người đàn bà đẫy đà nằm trong thuật yêu đương tự chế/ Chìm đắm trong thuật ướp xác tự chế/ Mùi hoa dại làm căn phòng ngộp thở/ Muốn thở hơi nắng trong đêm/ Tiếng thủy tinh đang rạn dưới trăng/ Căn phòng chông chênh trên mũi kim/ Muốn khâu đêm bằng sợi chỉ ban ngày/ Tưởng tượng nắng trườn dần từ ngón chân lên mặt...".
Bài thơ này tiếp tục khai thác thân thể nữ trong mối căng thẳng giữa sống - chết, ngày - đêm, dục tính - hư vô. Người đàn bà "đẫy đà" chỉ trong đêm, ban ngày thì héo úa. Đêm là không gian của sống thật, của cảm giác nguyên sơ, ngày là thế giới xã hội làm khô kiệt thân thể. Hình ảnh "chết đuối trong lọ nước hoa tự chế" gợi sự ngạt thở của đời sống thị dân hiện đại khi con người tự tạo hương thơm giả tạo để che giấu sự mục ruỗng bên trong. Đây không còn là thơ tình, mà là thơ thân thể mang triết luận.
Một trong những đóng góp quan trọng của Ly Hoàng Ly là đưa thân thể nữ vào trung tâm diễn ngôn thơ đương đại với cách biểu đạt trực diện nhưng giàu ẩn dụ. Bài "Mở nút đêm" là một ví dụ tiêu biểu. Hành động mở từng chiếc nút áo trở thành hành trình tìm kiếm chiều sâu của bản thân. "Áo chỉ năm nút/ Nhưng đêm là vô tận" cho thấy thân thể hữu hạn, khát vọng vô hạn. Người phụ nữ soi gương, bất lực và khóc, cho đến khi "một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng".
Đêm ở đây là biểu tượng của khát vọng, của chiều sâu bản thể, của phần vô thức không thể mở ra bằng những thao tác vật lý. Bài thơ vừa mang tính nữ quyền (giải phóng thân thể khỏi khuôn phép kín đáo truyền thống) vừa mang chiều sâu siêu hình.
Thơ Ly Hoàng Ly dày đặc hình ảnh siêu thực. Không gian thơ thường phi logic vật lý: nhà nghiêng, sa mạc không mặt trời, giọt đêm ứa ra từ ngực, người trong tranh bị cạo khỏi bức họa, xe chở cát muốn đưa cát vào bảo tàng. Đây là thế giới bị bẻ cong, nơi thực tại không còn ổn định. Điều này phản ánh cảm thức hậu hiện đại khi thế giới là tập hợp những mảnh rời, không còn trật tự lớn chi phối.
Trong bài thơ "Người trong tranh", chị viết: "Những người đàn bà/ Đi lại trong bức tranh khổ vuông/ Những nhát màu bết họ vào sơn/ Những người đàn bà màu đen/ Đi lại trong đêm/ Tóc hất ngược ra sau/ Trên mặt phẳng bức tranh dang dở/ Những người đàn bà khô queo/ Vì đi lại quá nhiều/ Quẩn quanh bức tranh khổ vuông do người khác vẽ/ Đi được đến đâu/ Khi xác đã bệt lại bởi những nhát mầu/ Cầm chiếc bay/ Cạo xác từng người đàn bà ra khỏi tranh/ Thấy mình cũng rời ra từng mảnh/ Không đau đớn".
Bài thơ trên là một ẩn dụ sâu sắc về thân phận con người trong xã hội nghệ thuật hóa. Những người đàn bà đi lại trong bức tranh người khác vẽ, bị "những nhát màu bết họ vào sơn". Khi người họa sĩ cạo họ ra, chính mình cũng rơi ra từng mảnh. Nghệ thuật vừa sáng tạo vừa hủy diệt, chủ thể vừa là người làm vừa là nạn nhân của chính sáng tạo ấy. Đây là một tư duy hậu hiện đại tiêu biểu đã xóa ranh giới giữa tác giả và tác phẩm, giữa chủ thể và đối tượng.
Tổng hợp lại, Ly Hoàng Ly đã xây dựng một phong cách thơ nữ đặc thù: không ủy mị, không lãng mạn truyền thống, mà mạnh mẽ, trực diện, triết luận. Nữ tính trong thơ chị không chỉ là tình yêu hay thân phận, mà là ý thức về thân thể, về quyền phát ngôn, về khả năng tự định nghĩa mình. Đây là tiếng nói của người phụ nữ hiện đại, dám bước ra khỏi vai trò thụ động để chất vấn chính cấu trúc xã hội và ngôn ngữ.
Qua các bài thơ tiêu biểu, Ly Hoàng Ly đã đem đến cho thơ Việt Nam đương đại một tinh thần thể nghiệm mạnh mẽ và một chiều sâu tư tưởng đáng chú ý. Thơ chị là nơi giao thoa của siêu thực, hiện sinh và hậu hiện đại, là hành trình tìm kiếm bản thể trong thế giới phân mảnh, là sự khẳng định thân thể và tiếng nói nữ giới, là nỗ lực tái tạo ngôn ngữ thơ từ gốc rễ.
Đọc Ly Hoàng Ly, ta không chỉ đọc thơ, mà bước vào một không gian tư duy nơi mọi giá trị được đặt lại, mọi hình thức bị bẻ cong, và con người đối diện trần trụi với câu hỏi lớn nhất: mình là ai giữa thế giới này.
