“Người gieo hạt” kết tinh những giá trị nhân văn

Thứ Bảy, 28/02/2026, 08:54

Tuyển tập thơ “Người gieo hạt” do NXB Hội Nhà văn vừa ấn hành tháng 12/2025 gồm 640 trang khổ rộng, được chọn từ hơn 1.500 bài dự thi của 346 tác giả. Tác phẩm là sự kết tinh hạt giống giá trị nhân văn sâu sắc.

Ra đời từ cuộc thi thơ độc đáo ở một ngôi làng

Làng Chùa - tên nôm của làng Hoàng Dương thuộc xã Hòa Xá, Hà Nội - ngôi làng độc nhất ở Việt Nam về truyền thống thơ ca. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, người con của làng đã viết về người làng mình: “Họ làm thơ như một lẽ sống giản dị từ hàng trăm năm nay, như họ đã cày cấy và gieo trồng, như họ đã khổ đau và hạnh phúc, như họ đã sinh ra và biến mất trên chính đất đai của họ… Những người nông dân làng tôi làm thơ để được sống, được bày tỏ và chia sẻ trong những ngôi nhà hai mái giản dị của họ chứ đâu để đợi chờ việc khen chê. Chính vì thế mà họ truyền tình yêu thơ ca từ đời này đến đời khác như truyền cách yêu con người, yêu đất đai, yêu công việc cày cuốc và gieo hạt” (Về những người nông dân làm thơ).

Người làng Chùa có tập quán và những nét văn hóa riêng. Cụ thủ từ đình làng Ngô Hữu Lộ (71 tuổi) cho biết: “Trong khi ở nhiều nơi, hội làng là người ta mổ lợn, uống rượu, vui chơi, thậm chí có cả đánh bạc, còn hội làng nơi đây, tại ngôi đình - nơi kết tinh văn hóa cộng đồng làng xã - người ta đốt trầm, đọc thơ. Từ trăm năm trước, làng đã có tao đàn thơ. Chiến tranh làm lắng xuống để người làng dồn sức cho tiền tuyến, khi đất nước hòa bình thống nhất, tình yêu thơ của dân làng lại tiếp tục dòng chảy”.

-nh 1 bìa tuy-n tho ngu-i gieo h-t.jpg -0
Tuyển tập thơ “Người gieo hạt”.

Hội thơ làng Chùa chính thức thành lập từ năm 1982. Năm đó, thi sĩ tài danh Phạm Tiến Duật về làng nói chuyện thơ, gần như cả làng mang đèn dầu ra sân đình ngồi nghe say mê - bấy giờ chưa có điện. Đêm ấy, rất nhiều người dân đã thức bởi như gặp được bậc tri âm, tri kỷ.

Người làng Chùa từ bao đời nay truyền dạy nhau nhiều câu minh triết về cuộc sống như: “Mất nửa đời học làm thơ, mất cả đời học làm người”. Từ trẻ tới già, rất nhiều người làng Chùa biết làm thơ, sáng tác thơ trong nhiều hoàn cảnh và dùng thơ làm phương tiện giao tiếp. Sau hai cuộc thi vào năm 2007 và năm 2022, cuộc thi "Thơ ca và nguồn cội" lần thứ 3 do Hội thơ làng Chùa tổ chức.

Ông Ngô Mạnh Cường, (70 tuổi, giáo viên hưu), Chủ tịch hội thơ của làng cho biết: “Cuộc thi năm 2025 đã thu hút hơn 500 tác giả khắp mọi vùng miền ở Việt Nam, trong đó có không ít nhà thơ nước ngoài tại Hoa Kỳ, Palestine, Colombia, Đài Loan (Trung Quốc)... dự thi”.

Nhan đề tác phẩm đã thu hút người đọc bởi giá trị tinh thần thơ ca mang đến cho con người. Bìa sách được trình bày trang nhã với gam màu vàng của mùa màng, màu nâu đất của giản dị, khiêm nhường, màu xanh của hy vọng và niềm tin cùng rất nhiều hạt giống trên nền đất... hàm chứa tính minh triết, đúng như người làng Chùa từng nói: “Thơ ca không làm ra lúa vàng gạo trắng nhưng làm ra giấc mơ cho người gieo trồng”. Đọc tập thơ “Người gieo hạt”, mỗi người thấy tâm hồn mình được bồi đắp những lớp phù sa cảm xúc khiến con người giàu có lên nhiều.

Tình yêu sâu nặng với nguồn cội, “giữ riêng mình một căn cước làng quê”

Đến với khu vườn thấm đẫm tình quê, tình người trong ấn phẩm, bạn đọc cùng thương nhớ "Cố hương" với Huỳnh Trâm, với Trần Chấn Uy, được hiểu "Một cõi quê hương" của Viên Nguyệt Ái, biết đến"Nỗi quê" của Trần Kế Hoàn, "Quê nhà" của Đỗ Thu Hằng, hiểu thêm về "Làng tôi" của Nguyễn Đình Ánh.

Không những yêu làng quê mình, các cây bút còn nhận diện ra giá trị của làng quê Việt qua những trầm tích văn hóa mà người thường khó thấy được như "Hồn tre" của Ngô Đức Hành, "Cổng làng" của Thanh Trắc Nguyễn Văn, "Chiêng cồng - Lời của cha ông" (Chung Tiến Lực), "Hồn quê" (Đỗ Chiến Thắng). "Giếng làng" (Nguyễn Thị Minh Hồng), "Sỉn Chèng" (tên một làng của Vàng A Giang - Lào Cai).

Người làm thơ có những cái nhìn độc đáo về nơi mình sinh ra, mảnh đất nơi mình chôn nhau cắt rốn, nơi mà Nguyễn Thanh Hải cho rằng: “Trong tâm hồn mỗi người, ai cũng giữ riêng mình một căn cước làng quê”.Với bài "Màu quê hương", Nguyễn Thị Khánh Linh viết: “…Cả trăm màu nay chỉ còn màu nỗi nhớ/ Về quê hương, nơi con gọi là nhà”. Tác giả Huy Trụ lại khẳng định: “Đi cùng khắp biển trời Tây/ Tiếng làng hồn vía vẫn đầy cố hương” (Tiếng làng).

Thơ của các tác giả: Kiều Duy Khánh (Sơn La), Hà Sương Thu (Bắc Cạn), Hà Hồng Hạnh (Thái Nguyên) in đậm màu sắc núi rừng, chất văn hóa của đồng bào vùng cao. Hình thức thể hiện thơ của những cây bút trẻ ấy đa phần theo thể tự do, phóng khoáng, hợp với nếp nghĩ của người trẻ.

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến phát biểu: “Tình yêu quê hương trong các tác phẩm không chỉ là tình cảm cá nhân mà còn là tiếng nói chung của cộng đồng, của văn hóa dân tộc... khẳng định quê hương là bản thể, là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn”.

Thân thương, ấm áp tình cảm gia đình và con người là nguồn cảm hứng đậm nét trong tập thơ. Nhớ thương về ngôi nhà thân thuộc - cội nguồn bến đỗ bình yên, quan trọng nhất đời người là nỗi niềm xuyên suốt nhiều áng thơ. Những ký ức về người thân, về tình cảm máu chảy ruột mềm luôn là kỷ niệm lung linh trong tâm hồn những người con đi xa.

Đọc các bài: "Mẹ" của Nguyễn Duy Xuân, "Chuỗi cườm của mẹ" của Châu Anh Tuấn, "Ngày mẹ sinh tôi" của Lý Hữu Lương, "Ngày mẹ sinh" của Trịnh Hoàng Nghi, "Mẹ tôi đi chợ" của Lê Văn Sự, "Đàn gà vàng trong giấc mơ vàng - tặng má kính yêu" của Triều La Vĩ hay "Ngón tay mẹ và gốc rạ" của Lâm Cẩn... người đọc thật sự xúc động bởi tình mẹ vô cùng bình dị mà thiêng liêng. Các bài "Gửi cha" (Trang Thanh), "Bà tôi" (Nguyệt Phượng Yên Sơn), "Ao của ông nội" (Hiến Văn), "Chị tôi" (Võ Tấn Quờn)... khiến người đọc càng thêm trân quý tình cảm thân thương gia đình.

Tác giả Nguyễn Văn Quân trong “Nghe mình hát khúc sông quê” không chỉ đưa người đọc đến với những ký ức thời chăn trâu thổi sáo và “Tắm tiên ở khúc sông nhà/ Lọ lem bùn đất phôi pha mục đồng/ Quê nghèo lam lũ ven sông/ Rau lang rau má trên đồng nuôi anh” mà còn tự nhủ mình và mọi người nhớ ơn đấng sinh thành đã khuất bóng: “Giờ đây khi trở về nhà/ Khúc sông còn đó, mẹ cha khuất rồi… Dấu chân đâu mẹ đâu cha/ Anh mò tìm lại xót xa một thời” (tr 394).

Thơ của Nguyễn Thị Phú “Nói với con dâu” nhưng cũng là nói với mình và bạn đọc những lời tâm sự gan ruột: “Con về làng mình sẽ thấy/ Tình người tình đất thảo thơm/ Sống ở làng mẹ thấm đẫm/ Tình làng nghĩa xóm sắt son”. Đọc “Nước mắt làng Nủ” của Phạm Thanh Phương, chúng ta càng trân quý tình nghĩa đồng bào “Thương người như thể thương thân”, dòng chảy truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam tự bao đời nay.

Niềm tin bất diệt vào cuộc đời và nghị lực sống

Đọc thơ của các cây bút Đỗ Trọng Khơi, Nguyễn Ngọc Hưng, Vũ Đức Nguyên, Én Nhỏ (Huỳnh Thanh Thảo), người đọc không chỉ thấy tình người chứa chan nhân ái mà còn như được tiếp thêm nghị lực sống bởi những tâm hồn khỏe mạnh và những cuộc vượt thoát số phận đáng phục.

Viên Nguyệt Ái cho dẫu số phận thiệt thòi vẫn tha thiết yêu quê hương: “Bồng bềnh một cõi quê hương/ Chưa xa đã khắc khoải thương tận cùng” (tr 570). Én Nhỏ (sinh 1986 - Ấp Ràng, Củ Chi) dù bản thân bị nhiễm chất độc dioxin nhưng em vẫn quên cảnh ngộ mình để quan tâm, giúp đỡ người khác, tìm thấy cảm hứng cả trong những ngày bão Yagi hung tợn: “Bão tan đời sẽ tái sinh/ Vết thương liền lại yên bình ghé qua/ Thiên nhiên trời đất bao la/ Trẻ em sớm được hát ca giữa đời” (tr 296).

Một điều thú vị khác ở tuyển thơ là không chỉ được thưởng thức thơ của các tác giả Việt Nam, nhờ sức mạnh kỳ diệu của của thơ ca có “khả năng xuyên biên giới”, vượt qua thách thức rào cản ngôn ngữ nên người đọc còn được tiếp xúc với thơ của hàng chục nhà thơ quốc tế.

Nhà thơ nổi tiếng Tưởng Vy Văn (Đài Loan) với bài “Thi sĩ cánh diều”, Trần Chính Hùng (Đài Loan) với “Thăm lại quê xưa” (tr 608) rất gần gũi với nếp cảm, nếp nghĩ của người Việt. Đọc tác giả Marius Chelaru (Romania) qua bài “Về làng” đã làm sống dậy những kỷ niệm xưa nơi cố hương yêu dấu, nơi giờ chỉ là những hoài niệm và ký ức “Làng hoang lạnh mênh mông/ Cùng những nấm mộ của ông bà/ Với tuổi thơ/ Giờ giống như một món đồ cầm cố” (tr 598)...

Tuyển tập thơ “Người gieo hạt” thêm một lần nữa cho chúng ta thấy vẻ đẹp kỳ diệu của thơ ca. Thơ là tiếng nói trung thành nhất của cảm xúc, có khả năng mang đến ánh sáng, tình yêu, nghị lực, giấc mơ khát vọng và sự rung cảm trái tim cho con người.

Nguyễn Thị Thiện
.
.