Khuyến thiện, trừng ác - Khát vọng nhân bản!
Ai từng tới miếu Nhạc Phi ở Chiết Giang (Trung Quốc) sẽ thấy cặp tượng nam nữ quỳ gối, đầu hơi cúi, khuôn mặt già nua thiểu não, như đang phải chịu đựng một điều gì. Đó là tượng vợ chồng Tần Cối. Vài nơi còn có lệ, người đến tham quan cầm roi quất, hoặc tát vào mặt tượng…
Chính sử kể, năm 1130, đại quân Kim tiến xuống phía nam đánh Tống nhưng bị chặn lại bởi vị tướng Nhạc Phi tài giỏi. Chỉ với 4 vạn quân nhưng dưới sự chỉ huy của ông, quân Kim thua đau. Không chỉ hết mình bảo vệ nhà Tống, Nhạc Phi còn thể hiện lòng trung nghĩa với cả bách tính. Nhiều lần ông ra lệnh lấy lương thực trong kho binh cứu đói cho dân.
Không từ bỏ tham vọng thôn tính, quân Kim dùng mưu viết thư cho Tần Cối - vị tể tướng triều Tống, đại ý nói Kim - Tống muốn hòa bình, nhưng Nhạc Phi cứ muốn đoạt Trung Nguyên. Muốn hòa bình mãi mãi, nhà Tống nên loại bỏ Nhạc Phi… Vốn có âm mưu hàng Kim, thâm tâm lại đố kỵ Nhạc Phi tài năng, Tần Cối tìm cách nói xấu Nhạc Phi với vua Tống Cao Tông, sai một số gian thần dưới trướng (Trương Tuấn, Vạn Sỹ Tiết) vu cáo Nhạc Phi làm phản.
Nghe lời Tần Cối, chỉ trong một ngày nhà vua liên tiếp phát 12 đạo kim bài triệu hồi Nhạc Phi về kinh. Làm theo mưu đồ của vợ, Tần Cối đã giết chết Nhạc Phi. Nước Tống chìm vào loạn lạc… Về sau vua Hiếu Tông giải oan cho Nhạc Phi, cho cải táng tại đất Ngạc, ban hiệu là Trung Liệt, ban thụy là Vũ Mục.
Trong khu đền thờ có bức tượng ông cầm gươm và bức đại tự “Hoàn ngã giang sơn” (Trả lại giang sơn cho ta). Phía trước đền có câu đối “Thanh Sơn hữu hạnh mai trung cốt/ Bạch thiết vô cơ chú nịnh thần” (Núi xanh may mắn làm nơi chôn cất người trung lương/ Sắt trắng uổng thay đúc tượng nịnh thần). Dân gian tạc tượng Nhạc Phi để bất tử hóa người anh hùng tài năng, trung nghĩa.
Đến năm thứ 11, dưới thời Minh Hiến Tông (năm 1475), Bố chánh sứ Chiết Giang là Chu Mục trùng tu mộ Nhạc Phi, bèn nghĩ ra phải tạc tượng kẻ phản trắc để đời đời lên án, phỉ nhổ, cũng là để con người cảnh giác với cái ác. Cặp tượng quỳ vợ chồng Tần Cối được đúc bằng sắt ra đời từ đó…
Trước đó, trong văn hóa phương Đông cũng đã từng có những hình thức lấy cái ác để làm gương như ghi tên vào bia, ghi vào sử tên tuổi tội phạm những gian thần, được dân gian hóa thành huyền thoại, truyền thuyết. Người đời vốn đã công bằng trong ranh giới thiện, ác; công, tội; xấu, tốt... Hình như thế chưa đủ, phải tượng hình hóa để bất tử vĩnh viễn cả cái tốt, cái thiện, cả trung thần, nghịch tử, cả cái ác, cái xấu, để người đời “noi gương” và “bêu gương”… Tượng Tần Cối có liên hệ gì với hệ thống tượng trong quan niệm “trừng ác” của Phật giáo?
Trong nhà chùa (Trung Quốc, Việt Nam) thường có hai tượng Hộ Pháp, mô phỏng hình ảnh các võ sĩ cổ, mặc áo giáp, đội mũ, được tạc trong tư thế đứng hoặc ngồi trên lưng sư tử. Đặt bên tay trái bàn thờ Phật, là tượng Khuyến Thiện (ông Thiện), tay cầm viên ngọc “thiện tâm”, mặt trắng, hiền lành, thanh thản. Đối diện ông Thiện là tượng Trừng Ác (ông Ác) mặt đỏ, giận dữ, tay cầm vũ khí như để trừng trị những kẻ có tâm địa xấu xa. Hai vị Hộ Pháp này còn mang ý nghĩa tâm linh, bảo vệ chốn thờ phụng linh thiêng khỏi sự xâm nhập của ma quỷ hay những kẻ tà giáo.
Ở những chùa lớn còn có cả mô hình của điện Diêm Vương, nếu ai vào lần đầu sẽ rất hãi, bởi đó là những mô hình quỷ sứ tra tấn, trừng phạt. Theo Hán tự, “Diêm Vương” nghĩa là trói buộc, bắt giữ những người có tội.
Chịu ảnh hưởng của quan hệ tôn nghiêm, đa tầng, đa bậc ngoài xã hội, cõi âm của Diêm Vương có thêm “Thập điện âm phủ”. Đứng đầu mỗi “điện” là một vị Minh vương làm công việc luận tội người đã chết phạm phải khi còn sống trên dương gian rồi thưởng phạt công minh. Hình tượng Diêm Vương và Thập điện là một biểu hiện cụ thể cho thuyết nhân quả hướng con người ta sống thiện, “ở hiền gặp lành”. Sống ác sẽ chịu “quả báo”…
Trong mỗi “điện” lại thường có 16 địa ngục, và 2 kiểu hình phạt: các khốc hình tra khảo tội nhân (nguyên mẫu từ dương thế: kìm kẹp mồm, chặt gân róc xương…) và các hình phạt diều quạ mổ gan, chó cắn xé… (mô hình trong tự nhiên). Chứng kiến những cảnh “trừng phạt” ấy, tự nhiên con người có liên hệ: nếu mà ở ác sẽ phải gặp cái ác như vậy… Nên cố mà “tu nhân tích đức”, ăn ở hiền lành, tử tế.
Đối sánh quan niệm ấy của nhà Phật với tượng Tần Cối, sẽ có câu hỏi: Phải chăng tượng Tần Cối chịu ảnh hưởng của quan niệm “trừng ác” của Phật giáo? Chắc đã có nhiều nghiên cứu trả lời, nhưng rõ ràng, từ góc nhìn tiếp nhận phổ thông cũng thấy giữa các hiện tượng ấy gần gũi nhau về ý nghĩa. Xét đến cùng, tôn giáo cũng bắt nguồn từ thế tục rồi quay trở lại tác động tích cực vào thế tục để cùng hướng về những điều tốt lành, bình an…
Một điểm gặp gỡ giữa tôn giáo nhà Phật và thế tục là đều mượn nghệ thuật tạo hình (tượng) để ký gửi, trao truyền ý tưởng: tôn thờ cái thiện, phỉ nhổ cái ác. Nhờ tạo hình ba chiều (đắp, cắt, khắc, đúc, đẽo gọt, uốn…) trên các chất liệu đá, gỗ, đồng, kim loại, đất sét, tạo ra các hình khối sống động, có thể nhìn ngắm từ nhiều góc độ để cảm nhận qua thị giác, xúc giác, nghệ thuật điêu khắc là một hình thức biểu đạt cảm xúc và tư tưởng mạnh mẽ.
Nhiều bức tượng Phật vượt ra khuôn khổ nghệ thuật tạo hình để diễn đạt truyền tải những ý nghĩa tư tưởng lớn, mà khó loại hình nghệ thuật nào sánh được, kể cả ngôn ngữ. Hiểu theo ý này, bức tượng Phật nghìn tay nghìn mắt của ta là vô giá. Con người chỉ có hai mắt, hai tay nhưng Phật có nghìn mắt, nghìn tay. Bởi chỉ vậy mới diễn tả được cái khát vọng từ bi vô cùng lớn lao: (nghìn mắt) nhìn thấu nỗi khổ nhân quần để ra tay (nghìn tay) cứu độ chúng sinh.
Như vậy, trong truyền thống phương Đông, nghệ thuật điêu khắc được coi là một phương tiện giáo huấn đạo đức. Các tượng Phật “trừng ác” và tượng Tần Cối như muốn bày tỏ khát vọng: công lý phải hiển hiện để được nhìn thấy. Không chỉ là trừu tượng trên giấy, trên bia, hay lời nói… mà phải được tượng hình vào một hình hài cụ thể, lưu giữ lâu bền, sâu sắc trong “ký ức cộng đồng”. Với con người, có gì quý hơn thân thể mình đâu. Lấy thân thể người làm đối tượng trừng phạt là cách hành xử nghiêm khắc nhất.
Ngày xưa, việc “thích” (khắc) chữ lên mặt tội nhân thuộc “nhục hình”. Ngoài sự “đánh dấu” là sự sỉ nhục, trừng phạt cả về thể xác lẫn tinh thần, là một cách loại ra ngoài xã hội… Dựng tượng Tần Cối là cách kết án nặng nhất của đạo lý: không để cái ác chết, mà phải “đào mồ”, dựng “nó” dậy, bắt “nó” quỳ gối trong công luận mà chịu sự nhục mạ, phỉ nhổ.
Nếu trong Phật giáo có “địa ngục” xử tội những kẻ ác theo luật luân hồi nhân quả, thì tượng Tần Cối và đồng bọn là nơi “địa ngục thế tục” trừng phạt cái ác… Tôn giáo và thế tục đã gặp nhau ở khát vọng cùng hướng về miền an lành, tử tế, tôn thờ vĩnh cửu sự trong sáng, thật thà, bao dung, vị tha….
Nhưng ở “địa ngục” trong Phật giáo, tội nhân vẫn còn có thể “biến đổi”, với “hóa kiếp”, “đầu thai”, “chuyển kiếp”…; còn “địa ngục thế tục” thì vĩnh viễn chôn những kẻ ác. Thì ra, “tôn giáo” còn nhẹ nhàng hơn “thế tục” nhiều. Hơn nữa, với thế tục, do không bị ngăn cản bởi các bức tường giáo lý nên không gian “địa ngục thế tục” có thể có ở bất cứ nơi nào phù hợp.
Điều này lý giải, theo thống kê chưa đầy đủ, khắp đại lục Trung Hoa có tới 208 nơi đặt tượng vợ chồng Tần Cối trong tư thế mình trần, quỳ gối, hai tay bị xích ra sau. Cá biệt có nơi (lăng Thái Hạo, Hoài Dương tỉnh Hà Nam) còn tổ chức cả ngày hội “đả Tần Cối”. Vẫn chưa đủ, còn đi vào tín ngưỡng. “Du tạc quỷ” (con quỷ bị chiên dầu) phiên âm tiếng Quảng Đông là “Dầu chá quẩy”, tức món bánh quẩy cặp đôi (bên ta hay ăn cùng phở), tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối bị hình phạt bỏ vạc dầu. “Đả Tần Cối” hay ăn “dầu chá quẩy” đều là tín ngưỡng loại bỏ cái xấu để cái tốt nảy nở, sinh sôi.
Hẳn nhiên, quan điểm “trừng ác” hay “Đả Tần Cối” đi vào văn chương trở thành một đề tài thiên về giáo huấn. Khi đi sứ Trung Hoa, Nguyễn Du vĩ đại viết nhiều thơ về cặp vợ chồng này. Trong “Tượng Tần Cối” (bài 1), có hai câu cuối đậm tính giáo dục: “Ai bảo (chúng) nó không có công trạng gì cho đời?/ Muôn đời còn có thể lấy (chúng) nó làm gương cho bọn gian thần phải e sợ”. Trong “Vịnh Nhạc Vũ Mục”, Nguyễn Khuyến có câu kết: “Bách niên thùy nịnh cánh thùy trung” (Trăm năm ai nịnh với ai trung) đầy phân vân, day dứt...
