Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Thứ Bảy, 02/05/2026, 11:04

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Tuy nhiên, làn sóng chuyển đổi số trong những năm gần đây đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận di sản. Từ những tủ kính, bảng thuyết minh khô cứng, di sản đang bước vào một giai đoạn mới: trở thành một hệ sinh thái sáng tạo, nơi công nghệ, nghệ thuật và con người tương tác liên tục.

Từ lưu trữ tĩnh đến trải nghiệm đa giác quan

Tại tọa đàm "Hành trình từ lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo: Bước tiến mới của nghệ thuật số và di sản tại Việt Nam" đã diễn ra tại Bảo tàng Hà Nội vừa qua, các diễn giả cho rằng, trong những năm qua, các không gian trưng bày và triển lãm tại Việt Nam đã có những bước tiến dài nhờ sự hỗ trợ của công nghệ; và chính việc thực hành nghệ thuật số đã đưa di sản văn hóa đến gần hơn với công chúng.

tri%3fn lãm bùi xuân phái nam 2019 là d%3fu m%3fc c%3fa vi%3fc %3fng d%3fng công ngh%3f vào di s%3fn.jpg -0
Triển lãm Bùi Xuân Phái năm 2019 là dấu mốc của việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn di sản.

Một dấu mốc quan trọng cho sự chuyển mình này tại Việt Nam có thể được nhắc tới là các hoạt động diễn ra tại Bảo tàng Hà Nội, nơi nhiều dự án nghệ thuật số đã được triển khai, góp phần định hình lại vai trò của bảo tàng trong đời sống đương đại. Không còn đơn thuần là nơi “lưu giữ quá khứ”, bảo tàng đang dần trở thành không gian trải nghiệm, sáng tạo và đối thoại.

Trong mô hình truyền thống, di sản thường được tiếp cận qua hai kênh chính: thị giác (nhìn hiện vật) và ngôn ngữ (đọc chú thích). Sự xuất hiện của công nghệ số đã phá vỡ cấu trúc này. Những công nghệ như 3D Mapping, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) hay hologram không chỉ làm “đẹp hóa” không gian trưng bày mà còn tái cấu trúc toàn bộ trải nghiệm.

Họa sĩ Phạm Trung Hưng, Giám đốc Công ty CMYK Việt Nam, người đứng sau nhiều dự án nghệ thuật số, chia sẻ rằng mục tiêu lớn nhất của ông là thay đổi cách công chúng tiếp cận nghệ thuật. Việc số hóa, phóng to các tác phẩm hội họa giúp người xem không còn đứng ngoài quan sát, mà như được bước vào không gian nghệ thuật, cảm nhận trực tiếp tinh thần của tác phẩm.

Từ những bước đi ban đầu đó, nghệ thuật số tại Việt Nam đã tiến xa hơn với sự xuất hiện của các công nghệ như 3D Mapping, hologram, thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR). Những công nghệ này tạo hiệu ứng thị giác mạnh mẽ, mang đến trải nghiệm đa giác quan, xóa nhòa ranh giới giữa người xem và tác phẩm. Công chúng giờ đây được thưởng lãm, tương tác, khám phá và thậm chí trở thành một phần của không gian nghệ thuật.

Triển lãm về danh họa Bùi Xuân Phái tại Bảo tàng Hà Nội năm 2019 được xem như một bước ngoặt về hành trình chuyển đổi số. Ở đó, các tác phẩm hội họa không chỉ được trưng bày mà còn được số hóa, phóng đại và tái hiện trong không gian đa phương tiện. Những con phố Hà Nội trong tranh Bùi Xuân Phái không còn nằm trên toan vẽ, mà trở thành không gian nơi người xem có thể “bước vào”, cảm nhận nhịp sống và tinh thần của thời đại.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hòa, Giám đốc Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội, chia sẻ: “Bảo tàng Hà Nội đã có một quá trình chuyển đổi rõ rệt trong cách tiếp cận trưng bày và vận hành, từ mô hình truyền thống sang ứng dụng công nghệ số. Nếu trước đây không gian trưng bày chủ yếu dựa vào hiện vật tĩnh, bảng chú thích và các hình thức trình chiếu cơ bản, thì những năm gần đây, bảo tàng đã từng bước tích hợp các công nghệ như trình chiếu đa phương tiện, 3D Mapping và hệ thống tương tác để nâng cao trải nghiệm cho người xem”.

Từ triển lãm Bùi Xuân Phái, rất nhiều dự án ứng dụng công nghệ đã triển khai tại Hà Nội như trưng bày “Bảo tàng Tiền Thăng Long” dưới Nhà Quốc hội; dự án tour đêm Văn Miếu Quốc Tử Giám; Dự án "Cảm thức Đông Dương" với tâm điểm là tòa nhà Đại học Tổng hợp (19 Lê Thánh Tông) tại Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2024, góp phần khơi dậy sức sống tại các không gian di sản đô thị trong trục cảnh quan di sản Đông Dương.

Hay gần đây là không gian triển lãm số "Hà Nội rạng rỡ - Ánh sáng và Di sản" tại 93 Đinh Tiên Hoàng; và "hệ sinh thái số" tại Di tích Hoàng thành Thăng Long với không gian trải nghiệm số và vở diễn "Kinh đô Thăng Long" tái hiện Thăng Long dưới vương triều Lý bằng công nghệ 3D mapping...

Quan trọng hơn, công nghệ giúp giải quyết một bài toán lớn của di sản: làm thế nào để bảo tồn mà không làm mất đi tính sống động. Với các kỹ thuật số hóa, hiện vật có thể được “nhân bản” trong không gian số, cho phép khai thác, trình diễn mà không gây tổn hại đến bản gốc. Theo họa sĩ, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu của nghệ thuật đương đại. Anh cho biết, tại nhiều triển lãm lớn trên thế giới, tỷ lệ các tác phẩm có yếu tố số hóa đã chiếm hơn một nửa. Điều này cho thấy nghệ thuật đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, nơi công nghệ không chỉ là công cụ, mà còn là một phần của ngôn ngữ sáng tạo.

Hướng tới “bảo tàng không biên giới”

Một trong những tác động rõ rệt nhất của chuyển đổi số là sự thay đổi vai trò của bảo tàng. Từ một không gian trưng bày tĩnh, bảo tàng đang trở thành một môi trường giáo dục trải nghiệm. Thay vì chỉ cung cấp thông tin một chiều, các triển lãm ứng dụng công nghệ cho phép người xem tương tác, khám phá và tự xây dựng hiểu biết của mình.

Điều này đặc biệt hiệu quả với giới trẻ - những người quen thuộc với môi trường số và có nhu cầu trải nghiệm cao. Các không gian trưng bày hiện đại không chỉ hướng đến việc “truyền đạt kiến thức” mà còn khơi gợi sự tò mò, cảm xúc và khả năng sáng tạo. Khi người xem được tham gia vào quá trình khám phá, di sản không còn là thứ xa vời, mà trở thành một phần của đời sống cá nhân.

Một trong những xu hướng đáng chú ý nhất là sự hình thành của “bảo tàng không biên giới”. Với sự hỗ trợ của không gian ảo và Internet, di sản không còn bị giới hạn bởi vị trí địa lý. Người xem có thể tham quan triển lãm từ bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào. Điều này không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận mà còn góp phần đưa di sản Việt Nam ra thế giới.

Một triển lãm tại Hà Nội giờ đây có thể được trải nghiệm bởi khán giả ở châu Âu hay Mỹ chỉ với một thiết bị kết nối Internet. Đây là một bước tiến quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Di sản không còn chỉ phục vụ cộng đồng địa phương, mà trở thành một phần của dòng chảy văn hóa toàn cầu.

vòm tr%3fn d%3fm ch%3ft ki%3fn trúc-m%3f thu%3ft ðông duong du%3fc “s%3fng” l%3fi b%3fng nh%3fng s%3fp d%3ft ánh sáng trong tri%3fn lãm _c%3fm th%3fc ðông duong_ 2024.jpg -1
Vòm trần đậm chất kiến trúc - mỹ thuật Đông Dương được “sống” lại bằng những sắp đặt ánh sáng trong triển lãm “Cảm thức Đông Dương” 2024.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ lưu trữ tĩnh sang hệ sinh thái sáng tạo cũng đặt ra nhiều thách thức. Đầu tiên là vấn đề cân bằng giữa công nghệ và giá trị nguyên bản. Nếu lạm dụng công nghệ, di sản có thể mất đi chiều sâu của giá trị văn hóa. Vì thế, theo giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, trước khi sử dụng công nghệ, những người thực hành phải tìm hiểu sâu và nắm được những giá trị cốt lõi của di sản.

“Tôi nghĩ nếu để số hóa và ứng dụng công nghệ trở thành một hướng đi mang tính mũi nhọn thì chúng ta phải có chiến lược, nghĩa là phải có sự đầu tư cũng như những cơ chế cụ thể. Các dự án công nghệ thường yêu cầu nguồn lực lớn, từ thiết bị đến vận hành. Điều này đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên: nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức sáng tạo, các nhà nghiên cứu để hành trình này trở nên lâu dài và bền vững”, anh nói.

Họa sĩ Phạm Trung Hưng cho rằng: "Để phát triển nghệ thuật số trong xu hướng chung hiện nay, về mặt chính sách chúng ta đã cởi mở hơn nhưng muốn phát triển công nghiệp văn hóa cần phải bổ sung và cần đào sâu hơn nữa. Hiện nay, các dự án phần lớn phát triển theo chiều rộng nhưng cần phát triển theo chiều sâu để tạo ra những sản phẩm có điểm nhấn, đúng với lịch sử, mang được giá trị thực cho di sản văn hóa".

Rõ ràng, nghệ thuật số không chỉ tôn vinh giá trị của quá khứ mà còn khẳng định vị thế của một hệ sinh thái sáng tạo đầy sức sống, đúng như tinh thần của Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, và Đề án Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa của Chính phủ. Đây là minh chứng cho thấy khi di sản được kể bằng ngôn ngữ hiện đại, sẽ trở thành sợi dây kết nối bền chặt, khơi dậy niềm tự hào văn hóa trong mỗi người dân.

Linh Nguyễn
.
.