Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Con đường đặc biệt đến văn chương
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đang sinh sống tại Vũng Tàu là một tác giả không xa lạ với đời sống thi ca hôm nay. Mới đây, chị cùng lúc ra mắt ba tập thơ, với tên gọi mỗi tập thơ được lấy theo từng âm tiết trong bút danh mình là “Vũ”, “Thanh” và “Hoa”.
Viết văn để trò chuyện với thế giới
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa tốt nghiệp đại học Luật rồi làm việc trong ngành dầu khí. Không chỉ có môi trường công tác tương đối đặc biệt, nhà thơ Vũ Thanh Hoa cũng có con đường đến với văn chương không hề giống nhiều đồng nghiệp khác.
Chị kể: “Bố mẹ tôi đều tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội, bố tôi học Khoa Văn, mẹ tôi học Khoa Sử. Khi chuyển sang công tác tại Bộ Ngoại giao, đi qua nhiều nước châu Âu, châu Phi, trong hành lý gia đình lúc nào cũng đầy những cuốn sách văn học. Có lẽ chính từ đó, chữ nghĩa đã ngấm vào tôi như một thứ không khí quen thuộc.
Năm tôi bốn tuổi, bố tôi nhận nhiệm vụ Đại sứ 2 nhiệm kỳ tại bảy nước châu Phi và đưa cả gia đình theo. Tuổi thơ của tôi lớn lên trong khuôn viên sứ quán vắng lặng, không có bạn bè cùng lứa, chỉ có tôi và đứa em trai. Ngoài giờ học ở trường quốc tế (của khối các nước Xã hội chủ nghĩa, nơi tôi học chủ yếu bằng tiếng Nga) tôi học tiếng Việt từ chính bố mẹ tôi và qua những trang sách. Cũng từ những ngày cô độc ấy, tôi bắt đầu viết, khoảng tám, chín tuổi, như một cách trò chuyện với thế giới.
Ngày đó, việc gửi bài về Việt Nam vô cùng khó khăn, nhưng bố mẹ tôi vẫn kiên trì tìm cách để những trang viết non nớt của tôi được đăng trên các báo như Thiếu niên tiền phong, Khăn quàng đỏ.
Năm 1982, tôi trở về Việt Nam, vào thẳng lớp 7 Trường Ngô Sỹ Liên (Hà Nội). Những ngày đầu với tôi không dễ dàng, khi việc nói và viết sao cho “thuần Việt” trở thành một thử thách. Nhưng nhờ gia đình có nhiều người làm nghề giáo, và cũng chính bố mẹ giúp tôi dần bắt nhịp lại. Và từ đây, tôi nhận ra văn chương không chỉ là niềm vui, mà là đam mê lớn nhất của đời mình.
Năm 1993, tôi nhận giải thưởng đầu tiên, đó là giải thưởng “Tác phẩm Tuổi Xanh” cho một truyện ngắn. Về sau, tôi chủ yếu dành thời gian để sáng tác thơ”.
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận. Thế nhưng, với sự bình tĩnh và điềm nhiên ấy, nhà thơ Vũ Thanh Hoa cũng bước vào giai đoạn khó khăn nhất của một người viết. Đưa thơ về phía thị hiếu đám đông hay kéo thơ về cõi im lặng cá nhân, thực sự cần sự đắn đo nghiêm túc.
Sau một thập niên không in thơ, chị cùng lúc ra mắt ba tập thơ, tự tin đặt tên mỗi tập thơ bằng một âm tiết, mà ghép lại thành bút danh mình: Vũ -Thanh - Hoa. Ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” chủ yếu được nhà thơ Vũ Thanh Hoa viết từ năm 2010 đến năm 2025.
Nếu so với những tập thơ đã xuất bản trước đây như “Nỗi đau của lá”, “Trong em có người đàn bà khác”, “Lời cầu hôn đêm qua” và “Lục bát phố”, thì chị trình làng một giọng điệu đắm đuối hơn và day dứt hơn. Đó là cảm giác “chiếc ghế độc thân quên nhớ vu vơ” trong bối cảnh “khi lỡ mùa câu chữ hóa ngô nghê” nên chị có được “câu thơ buồn như tiếng rao đêm”.
Chối từ những khuôn thước mang tính ước lệ
Những ai muốn tìm vần điệu nhẹ nhàng mang tính thư giãn chốc lát, có lẽ không nên đọc “Vũ”, “Thanh” và “Hoa”. Bởi lẽ, sự tương tác của ba tập thơ kéo độc giả vào miền hoang mang và ngậm ngùi, khi phải san sẻ cảm giác “bóng tối giả chết/ mọi người giả chết/ em giả chết/ trái tim vẫn sống để yêu anh” từ nỗi đa đoan và niềm vân vi “đổ tất cả buồn vui vào khói/ tôi định vị mình giữa bản đồ đêm”.
Ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” liên kết thành một chân dung người đàn bà đi qua cuộc tình mà không thể nào thoát khỏi những hồi tưởng đeo bám. Người đàn bà ấy càng kiên định thủy chung thì dư âm cuộc tình càng nhói buốt.
Dù xác định “đêm chẳng thể dài hơn kỷ niệm” nhưng hành trình tìm kiếm ánh sáng bình yên vẫn gập ghềnh “em đi/ qua rất nhiều ngôi nhà/ đánh rơi hạt mầm bên cửa/ những dấu chân rón rén/ những cuộc tình không bấm chuông”, chị đành chấp nhận bẽ bàng “tôi gặp vài người đàn bà/ bàn tay giống tôi/ mái tóc giống tôi/ giọng nói giống tôi/ nhưng đôi mắt và nụ cười rất khác/ khép cánh cửa gió/ giật mình/ tôi gặp/ góc trong cùng/ một người đàn bà co ro ngồi khóc”.
Những câu thơ Vũ Thanh Hoa cứ dần mở rộng xao xác khi chị tự cho mình cơ hội để ngờ vực người tình “những lời hứa suông quá nhiều dị bản” và ngờ vực bản thân “cả tin những tia nắng ban mai vĩnh cửu/ cả tin những cơn mưa không bao giờ tạnh”.
Đôi lúc, khoảnh khắc nhớ nhung ngoảnh lại cũng làm bồi hồi thực tại ngổn ngang “mùa cũ tưng bừng nở trên chiếc khăn/ em choàng vào năm ấy/ từng cánh cúc vàng rực/ bây giờ lặng thinh trong chiếc lá thu”.
Giữa miền hanh hao của bâng khuâng nuối tiếc và bịn rịn níu kéo, chị mường tượng được thời gian lạnh lùng đang đẩy mình vào những rối bời miên man “hương sắc đang rời bỏ cánh hoa/ lạc lõng mùa và người đàn bà lỗi mốt”.
Thơ tình Vũ Thanh Hoa không thét gào, không hờn dỗi, không trách móc. Chị tập làm quen với hụt hẫng bằng cách an ủi “bao nông nổi xếp hàng hóa thân trầm tích” để có một ứng xử bao dung “chuyện hôm qua sắp cất vào năm cũ/ em vẫn chưa quen ngồi hát một mình”. Chị tập chan hòa với mất mát bằng cách vỗ về “gió xô mây trắng ngã lưng chừng” để có một thái độ tha thứ “gục trên vai mùa thu khóc cho những lá lìa cành/ trong giấc mơ hôm qua một vì sao đã tắt”.
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa không quá chú trọng thể loại thơ để tái hiện nhịp đập trái tim mình. Chính nhờ sự chối từ những khuôn thước mang tính ước lệ, từng câu thơ tự do co duỗi dài ngắn khác nhau để thuận lợi phô diễn mọi ý tứ.
“Vũ”, “Thanh” và “Hoa” dù nặng trĩu ưu tư vẫn không triệt tiêu mơ mộng. Cái nhìn mông lung “thành phố sang thu lá rụng về cổ tích” giúp sự lãng mạn không bị che lấp “anh như là hoàng tử/ em sửa soạn mãi không thành công chúa” giữa định mệnh run rủi “em nhắm mắt đi trên sóng/ vô định cánh buồm mình/ con thuyền lạc lối/ trôi về hư không”.
Ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” đều không dễ đọc liền một hơi. Mỗi tập thơ đều có lý do để tồn tại độc lập, nhưng vẫn nằm trong mạch rung động chung của bản hòa âm “Vũ Thanh Hoa”. Đọc thơ chị, không khó để phát hiện cá tính một người phụ nữ mạnh mẽ và quyết liệt.
Sau năm tháng trải nghiệm hết cung bậc giông bão và cay đắng, chị lặng lẽ vãn hồi sự nồng nhiệt “tấm áo mùa thu đánh mất/ heo may chẳng thể hồi sinh” để được an trú trong không gian riêng “hát một câu hát phi giới tính/ thấy mình cùng những hạt bụi rơi”.
Với ba tập thơ, nhà thơ Vũ Thanh Hoa tự tin phơi bày vui buồn với cộng đồng. Tác giả không ngần ngại “em lau những giọt mưa chảy từ ký ức mình” như một giải pháp âm thầm bảo tồn những ngày yêu và được yêu “bất chợt mưa rào đổ về biển sâu/ nỗi nhớ vòng xe lăn bánh qua cầu”.
Chị chia sẻ: “Tôi luôn tin rằng văn chương là tiếng hát của mỗi phận người. Tiếng hát ấy phải được cất lên tự do, mỹ cảm nhất có thể. Tác phẩm, suy cho cùng, chính là bóng dáng rõ nhất của tác giả. Dù được tung hô hay bị lãng quên, dù được thả lên trời hay vùi xuống đất, thì đến một lúc nào đó, giá trị thật của nó vẫn sẽ được người đời nhận ra.
Tôi quan niệm nhà thơ phải có một nền tảng văn hóa dày dặn, không nhất thiết phải đào tạo từ trường lớp mà tích lũy từ sự tự học hỏi và va đập đời sống. Mỗi tác phẩm mới phải khác tác phẩm cũ, tức là không lặp lại chính mình, càng không vay mượn sáng tạo của người khác; chỉ cần thấp thoáng bóng dáng ai đó cũng là dấu hiệu của sự bất lực.
Ngày nay có nhiều công cụ công nghệ hỗ trợ tinh vi trong công việc sáng tác. Tôi đã nghiên cứu các công cụ đó từ khi mới sơ khai và nhận ra nếu nhà văn phụ thuộc vào trí tuệ nhân tạo AI là một sự “tự sát ngầm” mà có khi chính bản thân mình chưa nhận ra. Đó chính là tàn lụi dần về sáng tạo, bào mòn tư duy bứt phá và đầu hàng một bộ não ảo được lập trình. Xét cho cùng, tất cả đều phụ thuộc vào bản lĩnh sống, bản lĩnh viết của mỗi tác giả”.
