Nguyễn Linh Khiếu - khúc quê vi vút trong tâm hồn

Thứ Hai, 09/03/2026, 13:43

Phó giáo sư, tiến sĩ triết học Nguyễn Linh Khiếu đến với thơ từ khi còn là một học trò trường huyện, khi ấy thơ ông đã có tứ chạm tới triết lý đời sống. Cảm xúc dẫn dắt con chữ, nên mãi sau này, khi những áng văn của ông ra đời, thì độc giả vẫn tìm thấy thi vị.

Sinh ra ở quê lúa Thái Bình, miền quê giờ đây đã biến mất trên bản đồ địa lý nhưng vẫn còn mãi trong tâm hồn ông. Tôi thấy cái mộc mạc, phù sa làng quê dậy mùi trong sáng tác của ông. Đọc tùy văn "Hoa khởi trinh" (NXB Hội Nhà văn, 2024) của ông, tôi được chạm tới cái xào xạc thôn ổ, hoai nồng điền dã, thức vị mà giờ đây chỉ đọng lại trong vệt nhớ của những đứa con đẻ của đồng ruộng từ thế kỉ trước.

%3fnh tác gi%3f vs tp.jpg -0
PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu.

Có thời gian dài gắn bó với Tạp chí Cộng sản, rất nhiều chuyến công tác cho ông cơ hội phát triển nghề nghiệp, làm dày vốn trải nghiệm. Vào những năm 90 của thế kỉ trước, ông cộng tác với Báo Lao động, trong chuyên mục Tản mạn. Vì thế, những bước thiên di của ông, đã trở thành một mảnh ghép, trong bức tranh đa sắc của một tờ báo có tên tuổi.

"Hoa khởi trinh" là một tùy văn, thể loại văn xuôi tự do thuộc loại hình ký, ghi lại cảm xúc, suy tư và quan sát chủ quan của người viết trước các sự việc, con người, cảnh vật thực tế. Nó không bị ràng buộc bởi cốt truyện chặt chẽ, tùy theo cảm hứng, trang viết mở cửa cho chất trữ tình ùa vào, cái tôi cá nhân được bộc lộ rất phóng khoáng. Tính chiêm nghiệm và triết lý là hai nét đậm trong đó.

"Hoa khởi trinh" được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2024, được bạn đọc Zing bầu chọn là một trong 10 tác phẩm văn học Việt nổi bật năm 2024.

Ông bộc bạch, "Hoa khởi trinh" được khởi lên cảm hứng từ một chuyến công tác châu Âu, khi đang giữa thời không, ông thấy hai đứa trẻ gầy trên triền đê thông thốc gió. Đó là khoảnh khắc, ở rất xa quê hương, nhưng ông vẫn neo với chốn thân thuộc ấy bằng một sợi dây kí ức tuổi thơ. Thì ra, con người ta, dù có ở phương trời viễn mộng nào, thì quê hương vẫn là nơi họ thuộc về. Mà, dường như, cậu bé Linh Khiếu đã được trời phú cho một hạt mầm triết học. Ngay cả chữ Linh trong họ tên ông, cũng là một ứng chiếu tự nhiên. Đó là ưu ái, cũng là cái nghiệp vận vào thân.

Khởi trinh là một đóa trổ từ hoang dại đồng nội, có đủ sắc, hương và tinh khôi bền bỉ với mọi cơn thốc tháo hay dịu dàng trời đất, “lá xanh biếc như ngọc. Cây thường mọc ở nơi sườn đê bờ đầm. Dây leo vắt vẻo trên những cây gỗ. Hoa khởi trinh nở quanh năm. Hoa nhỏ xòe ra như ngôi sao sáu cánh trắng muốt tinh khiết. Hương hoa ngan ngát dịu dàng. Nhụy hoa màu vàng tươi có dính tí ti mật ngọt”.

Tựa vào loài hoa giản dị để gọi tên những mảnh kí ức vời vợi, ông đã lấy cái bình thường để lay động kí ức chính mình và những gót chân lem bùn đi mãi vẫn không ra khỏi cánh đồng quê ngăn ngắt cơn gió đông tím tái. Thì ra, kí ức tập thể ấy đã đơm nở thành những đóa hoa đi dọc hành trình gió bụi, mà khi ngóng về nẻo nào cũng mê mải một miền xào xạc lá gió.

Vì thế, giữa không thời gian biếc xanh đến lạ lẫm, ông càng chơi vơi, trái tim những muốn đào tẩu khỏi xứ người để trở về đụn rơm oi oi khói cay sè mà dụi mặt vào vai sờn áo mẹ. Một nỗi quan hoài nhỏ lệ như những chấm hoa xanh xao, chỉ chạm khẽ đã nưng nức một bầu quê thân thuộc.

Cuốn sách mỏng mảnh nhưng tựa hồ một bảo tàng tuổi thơ cậu bé Linh Khiếu. Không gian làng quê, không gian sinh hoạt, không gian học tập, không gian gia đình, những cậu bé, cô bé với cái tên mộc mạc đã gọi dậy trong mỗi đứa con của rơm rạ cái nắng tháng sáu chói gắt hay mưa phùn giêng hai, cả những cái rét đến quắt queo da thịt đứa trẻ thiếu đói. Tác phẩm được kể bằng giọng của Cò Bé - đứa trẻ luôn nằm trong giấc mang mang quá vãng của chính tác giả. Mà ai trong chúng ta đều có một đứa trẻ khóc hờn.

Tuy tôi sinh ra từ khu tập thể nghèo của một bệnh viện huyện thời bao cấp, nhưng đồng quê thấm thía vào máu thịt. Những cơn đói của thời bao cấp, khiến bất kì ai dù thoát ly đồng ruộng thì vẫn quay về với liềm, hái, quang tre. Những cánh đồng bồi hồi đòng đòng - “bông lúa non trắng nõn nà như một dải lụa mềm ăn ngọt lịm thơm tho” - thức ăn phong lưu của tụi trẻ quê, rau khúc, khoai lang, cá chép, chuồn chuồn, đỉa, rắn, sẻ đồng... tất cả chấp chới chậm trôi giữa cơn thương nhớ khôn nguôi. Mỗi khúc yêu thương hầu khắp chỉ gọi bằng hai chữ, ngắn gọn, cô đọng. Phong cách triết học Nguyễn Linh Khiếu.

Dưới con chữ của ông, những trò chơi tuổi thơ sống động, hiển hiện. Lũ trẻ lành, hồn nhiên quấn vào bùn đất, đụn rơm, xó bếp, hay mặt nước trong leo lẻo, khác hẳn đời sống của trẻ em thời đại silicon. Đất quê mênh mông, ngọt ngào hương mạ non, váng vất cơn đói cồn cào ngực lép. Đói, rét, tay áo dệt bằng những sợi mũi dãi xanh tanh nồng. Âm thanh đói nghèo còn sót lại trên trang sách viết nên lịch sử tâm trạng nông thôn.

“Trẻ quê vào mùa đông đứa nào cũng thò lò mũi xanh. Nước từ mũi chảy ra ròng ròng. Chúng phải khịt mũi liên tục. Lũ trẻ chơi với nhau, tiếng khịt mũi thật náo động râm ran”. Có lẽ, cụm từ “thò lò mũi xanh” cũng ra đời và trở nên quen thuộc từ đó chăng? Những đứa trẻ lớn lên, tuy còi cọc nhưng không gì có thể quật ngã chúng. Đất quê bao dung ôm chúng trong vòng tay độ lượng. Đó chỉ là những thử thách để bồi thêm bản lĩnh, giúp người quê vững vàng, nhưng chừng mực trên mọi nẻo đời.

Cái gieo neo không làm mờ đi kí ức trong trẻo của những cô cậu học trò láu lỉnh. Những lớp học đơn sơ mái rạ, trò nghịch của lũ học trò “nhất quỷ nhì ma”. Mỗi giờ học với thầy Thỏn là mỗi kỉ niệm, mà bất cứ đứa trò quê nào thời ấy đều ít nhiều tìm thấy mình trong đó.

Chúng nhận được nhiều bài học cuộc sống sau những buổi đến trường. Bài học sợ hãi khi không thuộc bài, cách thầy gọi học trò bằng những cái tên vô cảm như: Giang Như Tay, Gắt Như Mắm, Trần Như Cu, Đỗ Thị Diệu Mái. Tụi trẻ như tờ giấy trắng, yêu, ghét phân minh. Muốn thuộc về kí ức học trò, thầy chỉ cần khắc hai nét chữ: yêu/ghét.

Đoản văn chưa đầy hai trang giấy đã nói được đầy đủ về đạo thầy trò, tác giả tuyệt đối từ chối lối viết “minh họa”. Để một đứa trẻ nên người, không thể tách nó khỏi một nền giáo dục bài bản, nhưng sự thật thì những bài học không bục giảng lại có giá trị tức thời.

Lũ trẻ trong “lễ kỉ niệm Ngày Hiến chương các nhà giáo”, thì cái hấp dẫn chúng không phải bài diễn văn lê thê của thầy mà là những quả chuối xanh vặt trộm từ vườn nhà thầy. Dẫu hôm đó thầy có mắng, áo có lem nhựa chuối thì bụng trò ấm và bể nước ăn nhà thầy Thỏn bị thả một con cóc to bự. Nếu không có những ngăn chật đầy kỉ niệm ấy, liệu kí ức trong chúng ta có đủ hình hài? Mà sự thật thì, kẻ không có kí ức là một kẻ bất hạnh.

hoa khoi trinh.jpg -1
Bìa cuốn "Hoa khởi trinh" của tác giả Nguyễn Linh Khiếu.

Tình yêu tuổi học trò là những xúc cảm tinh khôi nhất, Nguyễn Linh Khiếu đã viết rất hóm hỉnh, kì lạ về thứ tình trong veo ấy. Một Cu Ti dũng cảm bơi giữa hồ tanh tưởi phân lợn và nhung nhúc đỉa trâu để vớt nón cho cô bé cùng lớp. Trên trán nó “con đỉa thì để nguyên trên trán kiêu hãnh như một tấm huy chương đen”. Có sá gì, chỉ đơn giản là “Cu Ti rất mê cái Mái”. Một kết thúc bất ngờ, nhưng tràn đầy yêu thương, bồng bột.

Ông nói đến cội nguồn của loại hình đồng dao thực giản dị, mộc mạc nhưng chính là trí tuệ nhân dân, đúc kết từ kinh nghiệm và trong lao động, đời sống sinh hoạt. Nó trổ vào hiện thực như một hạt mầm, đến thời điểm thích hợp sẽ được bật ra một cách bản năng. Qua miệng lũ trẻ, nó đã mang sinh mệnh. “Bố mày chết ở cầu Việt Trì/ Ba mươi tết đánh điện về nhà/ Toàn công trường đi đưa đám ma/ Tò tí te con bò kéo xe”. Và, thế hệ 7X chúng tôi ai ai cũng mang khúc ca ấu thơ ấy đi vào dòng đời mênh mông. Đó như bầu sữa nuôi dưỡng phần hồn cho mỗi người.

Viết tùy văn bằng những câu chuyện nhặt dọc hành trình ngày thơ ấu, làng quê trong Nguyễn Linh Khiếu không chỉ hữu hình, cụ thể mà còn là một không gian linh thiêng với những sự tích huyền ảo. Sự bí ẩn bao giờ cũng là một hấp dẫn kì lạ, để ai đi xa cũng hướng về mảnh đất sinh thành như một tạ ơn.

Nguyễn Linh Khiếu biết ơn quá khứ, chạm trổ nó bằng ngôn ngữ văn chương, để những kẻ mang nỗi nhớ trong mình, khi lật giở "Hoa khởi trinh" luôn nhìn thấy một cánh diều như vành trăng khuyết chao giữa bầu đêm của đồng ruộng bí ẩn, bao la.

Nguyên Tô
.
.