Mở lối xuất khẩu phim Việt

Thứ Sáu, 27/03/2026, 12:08

Nhiều bộ phim ăn khách trong nước dần mở rộng thị trường bằng cách vươn ra phòng vé toàn cầu. Dù vẫn đang từng bước dò dẫm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, nhưng hành trình chinh phục khán giả ngoại quốc dần có nhiều tín hiệu khả quan.

Phim nội đã kéo được khán giả ngoại

“Xông đất” xứ người đầu năm 2026 phải kể đến “Báu vật trời cho” của đạo diễn Lê Thanh Sơn. Bộ phim hài hước - tình cảm này phát hành ở nước ngoài gần như cùng lúc với thị trường nội địa. Ngay từ mùng 3 Tết, người Việt ở Australia và Mỹ đã có thể mua vé thưởng thức phim. Đáng mừng ở chỗ: “Báu vật trời cho” xuất hiện tại nhiều cụm rạp thương mại thay vì chỉ chiếu giới hạn cho kiều bào như nhiều phim Việt trước đây. Điều này cho thấy phim Việt đang dần được công chúng bản địa chào đón.

2 quy nhap trang 1.jpg -1
Quỷ nhập tràng” phần 1 được khán giả ngoại quốc khen ngợi về nội dung.

Sau khi dẫn đầu phòng vé với doanh thu gần 450 tỷ đồng, “Thỏ ơi” của Trấn Thành cũng sẽ phát hành rộng rãi ở 14 quốc gia và vùng lãnh thổ như Mỹ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Myanmar, Campuchia... Đây không phải là lần đầu tiên Trấn Thành đưa phim của mình xuất ngoại. Những năm trước đó, “Bố già”, “Nhà bà Nữ”, “Mai” và “Bộ tứ báo thủ” từng chinh chiến ngoài biên giới sau khi đã “làm mưa làm gió” ở quê nhà.

Không chọn “mang chuông đi đấm xứ người” sau khi đã “ăn đủ” ở trong nước như Trấn Thành, nhà sản xuất của “Quỷ nhập tràng” phần 1 lại chọn cách “tiền khách, hậu chủ”. Năm ngoái, đứa con tinh thần của đạo diễn Pom Nguyễn ra mắt ở Mỹ vào tháng 1 và đến Đài Loan (Trung Quốc) vào tháng 2.

Chờ khán giả quốc tế thưởng thức hơn 2 tháng, ê-kíp mới chính thức mang phim về công chiếu trong nước và nhanh chóng trở thành phim kinh dị ăn khách nhất mọi thời đại trong lịch sử điện ảnh Việt. Những năm qua, danh sách tác phẩm phát hành thương mại ở thị trường quốc tế còn quy tụ khá nhiều cái tên đình đám như “Hai Phượng”, “Mắt biếc”, “Đất rừng phương Nam”, “Lật mặt 6”, “Người vợ cuối cùng”, “Thiên thần hộ mệnh”...

Đi cùng số lượng, thành tích của phim Việt ở phòng vé quốc tế ngày càng ấn tượng. Hiện số vé đặt trước cho phim “Thỏ ơi” ở Australia đã vượt qua tất cả phim Việt từng xuất hiện tại thị trường này. "Mai" của Trấn Thành còn trở thành phim Việt đầu tiên thu được 1 triệu USD trong tuần mở màn tại thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.

Trước đó, “Hai Phượng” gặt hái hơn 2 triệu USD sau khi “càn quét” rạp chiếu Trung Quốc và Mỹ. Cùng với “Mai”, “Hai Phượng”, “Lật mặt”, “Thiên thần hộ mệnh” và nhiều tác phẩm khác cũng ghi nhận kết quả ấn tượng khi công chiếu ở thị trường nước ngoài. Trong những chuyến cinetour, dàn diễn viên lẫn ê-kíp sản xuất “Quỷ nhập tràng” phần 1 vô cùng xúc động khi khán giả ngoại quốc đánh giá cao bộ phim về độ kinh dị nặng đô và câu chuyện ám ảnh. Từ bộ phim, họ hào hứng đặt ra nhiều câu hỏi thú vị về con người - văn hóa Việt Nam.

Khoảng 20 năm trước, điện ảnh Việt bắt đầu thử vận may ngoài biên giới. BHD là hãng phát hành tiên phong chinh chiến để tìm kiếm cơ hội cho phim Việt ở các hội chợ phim, liên hoan phim trên thế giới. Nhờ cầu nối này, các bộ phim như “Áo lụa Hà Đông”, “Chuyện của Pao”, “Chơi vơi”, “Cánh đồng bất tận”, “Bi, đừng sợ”, “Hotboy nổi loạn”, “Lửa Phật”... tìm được đường ra mắt ở châu Á và Mỹ.

Nhưng, đa phần phim Việt vẫn chỉ dừng lại ở dạng phát hành đĩa DVD, trên các trang chiếu phim trực tuyến, trên truyền hình, phòng chờ khách sạn hoặc phòng vé nhỏ dành cho cộng đồng người Việt... mà hiếm khi đường đường chính chính ra rạp tại xứ người. Thời điểm đó, số phim phát hành thương mại ở cụm rạp lớn chỉ đếm trên đầu ngón tay.

1 tho oi.jpg -0
Phim “Thỏ ơi” sẽ sớm phát hành ở 14 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Năm 2016, “Cha và con và..." của đạo diễn Phan Đăng Di được Memento Films - nhà phát hành phim nghệ thuật hàng đầu nước Pháp - mua bản quyền phát hành thương mại 400 cụm rạp. Năm 2014, “Chung cư ma” (đạo diễn Văn M.Phạm) được phát hành trên 30 cụm rạp tại Malaysia và một số nước Đông Nam Á.

Cũng dễ hiểu khi bấy giờ chất lượng phim Việt vẫn còn trồi sụt, hầu hết ưu ái thể loại hài hước, xem xong rồi quên ngay. Số tác phẩm đạt chất lượng để chinh phục công chúng trong nước còn phải đỏ mắt tìm, huống hồ là đạt chuẩn quốc tế để bơi ra biển lớn.

Bà Bích Hiền, đại diện Công ty BHD cho hay thể loại phim hài dù rất hút khách ở Việt Nam, có phim doanh thu lên tới trăm tỉ nhưng nó lại rất khó bán ở thị trường nước ngoài. Vì sự hài hước phụ thuộc nhiều vào văn hóa của mỗi đất nước cũng như phụ thuộc vào lời thoại. Văn hóa mỗi nước khác nhau, lời thoại dịch ra tiếng nước ngoài không còn sự hài hước như nguyên bản thì rất khó để khán giả các nước yêu thích. Phim Việt khi ấy vẫn là một vệt mờ trên bản đồ điện ảnh toàn cầu, chưa có độ nhận diện riêng. Ngoài chất lượng phim, chi phí marketing, quảng bá ngốn quá nhiều khiến các nhà phát hành cũng ngại ngần vì thu không đủ chi. Bà Bích Hiền cho hay, tổ chức một buổi họp báo giới thiệu phim ở trong nước tốn một thì chi phí đội lên gấp 10 lần nếu họp báo ở nước ngoài.

Khoảng từ năm 2021 đến nay, phim Việt phát triển mạnh cả về lượng lẫn chất. Phim nội đã kéo được khán giả tới rạp và làm nên những con số ấn tượng ở phòng vé. Có phim còn “hạ đo ván” cả bom tấn Hollywood, Trung Quốc... khi cạnh tranh ngay trên sân nhà. Chúng ta đang dần khẳng định được thương hiệu riêng khi vừa tập trung vào những thể loại dễ bán ở thị trường ngoại quốc như kinh dị, hành động, tâm lý xã hội; vừa thổi vào nội dung chất Việt đặc trưng.

Để không chỉ là những cuộc thử sức

Khẩu vị của khán giả ngoại quốc hoàn toàn khác với khán giả Việt. Không phải cứ phim trăm tỷ ở trong nước thì sẽ “ngon ăn” ở nước ngoài. Theo đạo diễn Victor Vũ, bên cạnh nội dung cuốn hút, giàu tính giải trí, phim Việt muốn ra thế giới thì nội dung phải vượt khỏi giới hạn về ngôn ngữ và văn hóa. "Đó phải là những câu chuyện về con người, có những yếu tố mà bất cứ dân tộc hay quốc gia nào xem cũng cảm được. Nhưng, nổi bật vẫn là phong vị văn hóa Việt”.

Đồng quan điểm, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát phân tích: “Điều làm nên thương hiệu Việt vẫn phải trông đợi ở những bộ phim có tính đột phá về cách nghĩ, cách làm mới mẻ dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc đậm tính nhân văn sâu sắc. Câu chuyện trong phim phải thuần Việt, mang hương vị văn hóa, tập quán riêng biệt, độc đáo trong bối cảnh thể hiện và hướng đến cái đẹp, cái thiện”.

Ngoài nâng cao chất lượng nội dung, phim Việt bây giờ ngày càng tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế về khâu kỹ thuật. Bởi, “nhập gia tùy tục”, phim muốn cạnh tranh sòng phẳng với bè bạn năm châu thì buộc phải đạt chuẩn quốc tế từ khâu âm thanh, hình ảnh, kỹ xảo cho đến cách làm poster, banner quảng cáo...

Diễn viên, nhà sản xuất Ngô Thanh Vân cho hay, chị từng rất chật vật khi phải làm lại hậu kỳ và thiết kế lại poster để mang “Hai Phượng” đến Trung Quốc và Mỹ. Nhưng, sau một thời gian “vượt biển”, Ngô Thanh Vân học hỏi được rất nhiều điều hay để áp dụng cho những bộ phim sau.

Tuy thị trường phim trong nước nở rộ và phát triển vượt bậc nhưng cơ hội để phim Việt gặt hái doanh thu cao ở nước ngoài vẫn còn quá mong manh. Số nhà sản xuất mạnh dạn đưa “đứa con tinh thần” xuất ngoại vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm lực điện ảnh trong nước. Hầu hết vẫn coi việc chinh chiến ngoài biên giới chỉ là cuộc thử sức, dạo chơi hoặc kiểu “ăn dặm”, kiếm thêm doanh thu.

Để ý kỹ cũng dễ dàng nhận thấy, thị trường mà phim Việt thường nhắm đến vẫn là những khu vực có đông người Việt sinh sống như Bắc Mỹ hay châu Á. Số phim dám “so găng” ở thị trường châu Âu vẫn rất khiêm tốn. Khi nào phim Việt được chính bạn bè quốc tế (chứ không chỉ kiều bào) hào hứng móc hầu bao mua vé, khi ấy phim Việt mới dần định vị được thương hiệu của mình trên bức tranh điện ảnh toàn cầu.

Đạo diễn, NSND Đặng Nhật Minh thẳng thắn chỉ rõ: “Những năm gần đây, có thể tạm coi điện ảnh Việt đã chiếm lĩnh, tạo được thương hiệu với thị trường trong nước. Nhưng, bấy lâu nay chúng ta chỉ quan tâm chiếm lĩnh thị trường trong nước còn thị trường nước ngoài thì chưa được quan tâm đúng mực. Tham gia các liên hoan phim thế giới, được các giải thưởng thì chúng ta chỉ mới có mặt trong sinh hoạt của nghệ thuật điện ảnh thế giới. Còn tạo được thương hiệu riêng trên thương trường quốc tế thì phim đó phải được căng pano quảng cáo khắp nơi và thu hút nhiều khán giả mua vé”.

Dù mới chỉ le lói một vài điểm sáng, nhưng chúng ta có quyền hy vọng rằng đó sẽ là động lực để điện ảnh nước nhà tiến xa hơn trên con đường chinh phục công chúng ngoại quốc. Bởi, điện ảnh không dừng lại ở câu chuyện doanh thu mà còn là hình ảnh đất nước - con người, là sức mạnh mềm của một quốc gia.

Mai Quỳnh Nga
.
.