Ballet “Dó” và con đường tìm khán giả của những sáng tạo mới
Ballet đương đại “Dó" là một sản phẩm nghệ thuật độc đáo kết hợp giữa âm nhạc cổ điển và ballet classic châu Âu với kỹ thuật múa dựa trên căn cốt văn hóa Việt. “Dó” được dàn dựng từ năm 2024, sau 2 năm nỗ lực tìm đường đưa “Dó” ra rạp gặp nhiều khó khăn, ê-kíp quyết định “tất tay” để có một đêm diễn ở Nhà hát Hồ Gươm.
Điều này cho thấy, hành trình đến với khán giả của các tác phẩm nghệ thuật đương đại tại Việt Nam còn quá nhiều gập ghềnh, gian nan...
Khi văn hóa Việt trở thành căn cốt cho ballet đương đại
“Dó” là hành trình nghệ thuật dẫn dắt khán giả đi qua vòng tuần hoàn của bốn mùa - biểu tượng cho sự chuyển động, tái sinh và tự do sáng tạo. Lấy cảm hứng từ chất liệu dân gian như nơm, quạt giấy, chiếu hoa hay giấy dó, "Dó" mang đến một trải nghiệm mới mẻ về sự mềm mại nhưng vương vấn hồn đương đại. Tác phẩm sử dụng âm nhạc tổ khúc "Bốn mùa" của Antonio Vivaldi, được nhà soạn nhạc đương đại Max Richter chuyển soạn.
Qua sự dàn dựng tài tình của Tổng đạo diễn Hương Na Trần, NSƯT, biên đạo Phan Lương và biên đạo Vũ Ngọc Khải, "Bốn mùa" trở thành một bản giao hưởng sống động với những bước nhảy đầy cảm xúc. Bên cạnh đó, sự giao thoa văn hóa trong “Dó” còn được thể hiện qua âm nhạc với sự kết hợp sáng tạo và uyển chuyển giữa âm nhạc cổ điển của Antonio Vivaldi với các nhạc cụ truyền thống của Việt Nam như đàn tơ rưng, đàn tranh... Trên sân khấu “Dó”, vạn vật không được tái hiện theo lối tả thực, mà được trừu tượng hóa thành quỹ đạo chuyển động và nhịp điệu cơ thể.
Từ trước tới nay, ballet du nhập Việt Nam qua mô hình Nga - Pháp, mang theo toàn bộ hệ kỹ thuật và mỹ học châu Âu. Trong nhiều năm, thách thức lớn nhất là làm sao để không chỉ “kể chuyện Việt” bằng ngôn ngữ phương Tây, mà từng bước Việt hóa chính ngôn ngữ ấy. NSND Trần Ly Ly đã từng chia sẻ khi nói về sự hội nhập và tinh thần tự tôn dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật: “Hội nhập không có nghĩa là đánh mất mình. Nghệ sĩ cần làm chủ kỹ thuật quốc tế, nhưng điều giữ khán giả ở lại chính là bản sắc”.
Biên đạo Vũ Ngọc Khải chia sẻ: “Dó” mang tinh thần và chất liệu Việt Nam. Vì thế, chúng tôi lựa chọn khai thác sâu ngôn ngữ của múa Việt: từ động tác cuộn ngón tay, bàn tay Phật giáo đến những biểu tượng quen thuộc của văn hóa dân gian. Cấu trúc chuyển động trong vở rất phức hợp, đặt ra nhiều thách thức cho diễn viên. Chỉ những nghệ sĩ có nền tảng kỹ thuật vững vàng, được rèn luyện qua nhiều năm mới có thể thể hiện trọn vẹn. Trên sân khấu, các diễn viên vừa đứng trên giày mũi cứng của ballet, vừa vận động thân trên theo tinh thần đương đại, đồng thời giữ được sự mềm mại, tinh tế của động tác cuộn ngón tay - một sự kết hợp đòi hỏi sự kiểm soát và cảm thụ rất cao”.
Mong muốn của ê-kíp là tạo nên một tác phẩm nghệ thuật hàn lâm mang đậm bản sắc Việt, để khi “Dó” cất lời trên sân khấu, khán giả có thể cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn và văn hóa Việt Nam theo một cách vừa quen thuộc, vừa mới mẻ. Vũ Ngọc Khải cho biết, có 2 điểm mới mấu chốt trong lần tái xuất của “Dó” này là sân khấu sẽ được đầu tư hình ảnh và ánh sáng ấn tượng hơn nữa, tạo hiệu ứng hình ảnh mạnh. Người xem được thấy mình ở đó chứ không phải đang xem nghệ sĩ biểu diễn. Ngoài ra, đêm diễn có sự xuất hiện mới của một nghệ sĩ chơi sáo tay.
“Dó” bắt đầu hành trình từ năm 2024, khi Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam đặt vấn đề với đạo diễn Na Hương Trần về một vở diễn đương đại kết nối văn hóa Việt và thế giới. Biên đạo Vũ Ngọc Khải và Phan Lương đã mất nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi để “Dó” ra đời và có một đêm công diễn ở Nhà hát Lớn Hà Nội từ năm 2024.
Đại sứ Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam - ông Julien Guerrier đánh giá đây là vở diễn “tuyệt vời”, ông từng dẫn theo con gái đi xem ballet “Dó” và tới đây sẽ dẫn mẹ từ Paris tới Hà Nội xem. Trước đó, một trích đoạn “Dó” đã được các nghệ sĩ diễn tại thủ đô Copenhagen của Đan Mạch, khán giả vô cùng kinh ngạc, thích thú. Biên kịch Phan Lương cho biết, khán giả nồng nhiệt chia sẻ với anh rằng, họ chưa bao giờ xem tác phẩm kết hợp ballet cổ điển với nghệ thuật dân gian một cách đặc sắc như vậy. Nhưng, rất tiếc, “Dó” chỉ có một đêm diễn ra mắt ở Việt Nam.
Những nỗ lực cần rất nhiều trợ lực
Biên đạo Vũ Ngọc Khải cho biết, suốt gần 2 năm kể từ khi hoàn thành các buổi diễn đặt hàng của Phái đoàn Liên minh châu Âu, ê-kíp nghệ sĩ - tác giả và nhà sản xuất đã dành nhiều thời gian cho công tác tiếp thị, quảng bá tác phẩm, mong nó có thể nhận được sự hỗ trợ về cơ sở vật chất và kinh phí tổ chức biểu diễn nhưng rất khó khăn. Vì thế, ngày 29/3 tới đây, ê-kíp quyết định đưa “Dó” ra Nhà hát Hồ Gươm.
Vũ Ngọc Khải nói: “Đó là một cuộc chơi “tất tay” của toàn bộ ê-kíp với một đêm diễn duy nhất, dù cầm chắc không thể thu hồi vốn. Chúng tôi muốn tiếp tục truyền cảm hứng sáng tạo nghệ thuật tích cực nhất đến toàn bộ đội ngũ tham gia chương trình và gửi thông điệp thẩm mỹ tuyệt vời nhất về giao thoa văn hóa Đông - Tây đến khán giả có mặt tại đêm diễn. Từ đó, thêm động lực để tiếp tục có các tác phẩm, ballet đương đại tương tự “Dó”, đạt tiêu chuẩn biểu diễn quốc tế mà vẫn nói được rõ nét câu chuyện văn hóa Việt Nam”.
Thời gian qua, có nhiều nỗ lực bền bỉ của các nghệ sĩ sáng tạo ra những tác phẩm mới nhưng gặp khó khăn khi tiếp cận công chúng. Ở lĩnh vực ballet vốn kén khán giả nhưng ngoài “Dó” còn có “Hàm Lệ Minh Châu” và “Đông Hồ”. “Hàm Lệ Minh Châu” khai thác chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thủy, trên nền chất liệu múa ballet cổ điển kể câu chuyện văn hóa Việt, nhưng cũng chỉ có 2 đêm diễn ra mắt và sau đó lác đác vài đêm diễn tại Nhà hát Lớn.
Vở “Đông Hồ” do nghệ sĩ tài năng Ngọc Anh từ Anh về làm biên đạo, lấy cảm hứng từ tranh dân gian Đông Hồ và triết lý sống của người Á Đông “Cho và Nhận”, được công chúng yêu thích nhưng số buổi diễn cũng chỉ đếm đầu ngón tay. Gần đây, vở nhạc kịch “Giấc mơ Chí Phèo” với nỗ lực tiếp cận công chúng đã có 10 đêm diễn ở Nhà hát Hồ Gươm. Nhưng, so với tâm huyết ấp ủ hơn 10 năm của nhạc sĩ Dương Cầm để làm một vở nhạc kịch “made in Vietnam” và sự đầu tư và công sức của ê-kíp cũng như giá trị của tác phẩm thì 10 đêm diễn là con số quá ít ỏi.
Vậy, làm thế nào để những nỗ lực sáng tạo của các nghệ sĩ có cơ hội đến được với công chúng. Có thể nói, sáng tạo nên một tác phẩm nghệ thuật biểu diễn vừa mang hình thức nghệ thuật hiện đại, vừa chứa đựng bản sắc, câu chuyện, tâm hồn Việt Nam là một hành trình dài và khó khăn.
Vì thế, điều cần nhất là những nỗ lực của các nghệ sĩ và các đơn vị tư nhân luôn cần sự trợ lực của cộng đồng, các quỹ tài trợ để đưa tác phẩm đến với công chúng. Khi các tác phẩm được trình diễn sẽ là cơ hội để khán giả Việt cảm nhận được vẻ đẹp của bản sắc văn hóa được truyền tải qua ngôn ngữ nghệ thuật đương đại như thế nào.
Từ những thử nghiệm như “Dó”, “Giấc mơ Chí Phèo”, “Đông Hồ” cho thấy khái niệm “Made in Vietnam” trong nghệ thuật biểu diễn có thể dần được định hình - không chỉ như một dấu hiệu xuất xứ, mà như một tuyên ngôn về bản sắc và khát vọng sáng tạo của nghệ sĩ Việt Nam hôm nay. Khát vọng ấy cần rất nhiều trợ lực của cộng đồng, các quỹ nghệ thuật hay các nhà hảo tâm để có thể tiếp cận công chúng một cách lâu dài, bền bỉ, tạo nên sự đa dạng, phong phú cho đời sống nghệ thuật Việt.
