Những trạng thái tâm hồn nghệ sĩ

Thứ Ba, 02/11/2010, 10:53

Cô đơn và lộng gió

Trong một phần trước, tôi có viết về tâm hồn văn nghệ sĩ "Cô đơn hay lộng gió thời đại?". Có thể do sự lý giải của tôi chưa thật thấu đáo nên một số nhà văn và bạn đọc phản hồi: "Giọng hơi tuyên huấn". Xin cảm ơn các anh các chị đã vì yêu mến tôi mà chỉ bảo cho.

Tôi cho rằng, những tâm hồn lớn ở mọi lĩnh vực, trong đó có văn chương nghệ thuật vừa cô đơn vừa lộng gió thời đại. Giữa cô đơn và lộng gió thời đại không có gì mâu thuẫn. Thậm chí càng cô đơn càng lộng gió thời đại. Bởi vì những tâm hồn lớn thường đi trước thời đại nên ắt sẽ cô đơn, nhưng những tâm hồn ấy lại đầy ắp những băn khoăn, trăn trở, những câu hỏi và lời đáp về thời đại ấy nên cũng lộng gió của thời đại ấy. Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi là một người tiêu biểu như thế. Mùa xuân năm 2002, về Côn Sơn, tôi có viết về ông:

Tâm hồn Ông như bầu trời thu
Trong thăm thẳm mà buồn sâu lạnh.
Ẩn làm sao cây tùng cây bách
Thân giữa suối rừng, hồn để muôn nơi?

Các tâm hồn lớn đều thế cả. Khi họ sống một mình là họ sống với nhiều người nhất. Đại thi hào Nguyễn Du là người cô đơn giữa thời đại mình, đã đi tìm tri âm từ nghìn năm trước tận bên Trung Hoa là nhà thơ Đỗ Phủ, và thả câu hỏi đi tìm tri âm tới mai sau: "Ba trăm năm nữa ta đâu biết/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như?" (Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như). Lãnh tụ Hồ Chí Minh cô đơn "một ngày tù nghìn thu ở ngoài", nhưng cũng lộng gió thời đại "Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng". Tranh của Van Gốc, nhạc Bêthôven đều thấy sự cô đơn, sâu thẳm, đau đớn tận cùng, nhưng cũng đầy nhịp đập thời đại nên mới sống mãi đến ngày nay.

Một số người cứ quen nói theo nhau: Văn nghệ sĩ là những tâm hồn cô đơn. Theo tôi, chỉ cô đơn thì không có ý nghĩa gì, và không thể thành nghệ sĩ. Một số nhà tuyên huấn trước đây cũng cứ đòi hỏi văn nghệ sĩ phải là người chiến sĩ tiên phong của thời đại. Chỉ thế thôi thì cũng không còn là nghệ sĩ nữa. Người nghệ sĩ không có những giây phút tĩnh lặng để nghe được nhịp đập của trái tim mình thì làm sao có thể thấu hiểu trái tim nhân loại giữa sự ồn ào xáo động của cuộc đời?

Về mặt nghệ thuật của tác phẩm, điều này cũng hoàn toàn đúng. Mỗi tác phẩm phải là sự độc đáo, phải là sự riêng biệt, đơn chiếc, phải "cô đơn" hoàn toàn trước cả rừng, cả biển tác phẩm khác. Hoa hậu, đó là một người không giống ai, nhưng lại mang được những tiêu chí tiêu biểu của cả thế giới phụ nữ.

Không hiểu sao mỗi khi nghĩ về những nhà văn, những nghệ sĩ chân chính tôi lại nghĩ đến hình tượng người mẹ bồng con trong bài thơ của G.Mixlonan (Chi Lê, Bằng Việt dịch):

Đêm tối tăm đêm không nơi nương tựa
Đêm dần hạ xuống biển khơi
Mẹ bồng con, mẹ đưa con trên võng
Mẹ không hề cô đơn...
Bao nhiêu người trên trái đất xa nhau
Mỗi người một nỗi đau không xóa được
Riêng mẹ, mẹ ôm con vào sát ngực
Mẹ không hề cô đơn...

Nói là không cô đơn, nhưng lại chính là đang cô đơn. Nhưng cô đơn mà đang được ôm ấp đứa con mà mình yêu quý nhất thì đấy là hạnh phúc. Hạnh phúc của nhà văn, của các văn nghệ sĩ chân chính là cô đơn ấp ủ những tác phẩm mang tâm hồn, hơi thở của thời đại.

Nhà thơ Huy Cận.
Chúng ta có thể lý giải những bi kịch của L.Tônxtôi, Maiacốpxki, Exênhin... Đó đều là những nghệ sĩ lớn, tâm hồn của họ vừa cô đơn vừa lộng gió thời đại. Những tác phẩm vĩ đại của họ đã chứng tỏ điều ấy. Nhưng một phút nào đó họ đã không làm chủ được mình, nỗi cô đơn đã vọt trào quá ngưỡng dẫn tới những hành động bột phát: L.Tônxtôi bỏ nhà đi và chết ở ga tàu giữa trời băng tuyết, Maia và Exênhin thì tự tử. Ở Việt Nam, những thi sĩ của phong trào Thơ Mới: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử...,  một số nhà nghiên cứu thấy được nỗi cô đơn của họ, nhưng lại nói đó là sự tiêu cực trước thời đại. Đâu phải như vậy! Phải khẳng định rằng tâm hồn của họ lộng gió của thời đại ấy. Có thể là họ buồn, nhưng buồn trước nỗi buồn của đất nước thì là tích cực chứ. Nhà thơ Sóng Hồng (đồng chí Trường Chinh, cựu Tổng bí thư của Đảng) đã có lý khi nói rằng đọc câu thơ của Huy Cận: "Sóng gợn Tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song", ông thấy thêm yêu đất nước khi đang hoạt động cách mạng bí mật.

Day dứt và tiếc nuối

Văn nghệ sĩ là những người sống luôn luôn trăn trở cho sự sáng tạo. Họ không thể sống bình yên lâu dài được. Nếu chúng ta nhìn thấy một nhà văn, một nghệ sĩ đích thực nào đó có vẻ thanh thản thì có lẽ chỉ là vẻ bề ngoài, còn trong tâm hồn họ vẫn luôn luôn xao động, trăn trở về cuộc sống và về văn chương nghệ thuật. Khi nghe nhạc Bethôven, nhà thơ Bằng Việt đã nói về tâm hồn người nhạc sĩ thiên tài như một sự tiêu biểu của tâm hồn người nghệ sĩ: "Trái tim không bình yên, không một phút bình yên"...

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng day dứt về trách nhiệm của mình và các văn nghệ sĩ thời kỳ trước cách mạng: "Đất nước sắp đổi thay rồi mà tôi chẳng biết/ Người thay đổi đời ta đã về kia, ta vẫn không hay/ Tôi vẫn khép phòng văn hì hục viết/ Nắng trôi đi oan uổng biết bao ngày...". Nhà thơ Nguyễn Đình Thi thì sâu lắng trong tình yêu của người chiến sĩ ngay từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp: "Mỗi vết bùn ta mang trên mặt/ Trong mắt người yêu đọng thành nước mắt" và "Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm Người!". Nhà thơ Bằng Việt ngay từ trong cuộc chiến đấu chống Mỹ đã "Nghĩ lại về Pautốpxki": "Không phải thế đâu, không phải thế đâu cuộc đời không phải thế/ Giọt nước soi trên bàn tay không cùng màu sóng bể/ Bể mặn mà sôi sục biết bao nhiêu...". Cậu bé Trần Đăng Khoa từ khi chỉ hơn chục tuổi, giữa những năm tháng bom đạn giặc Mỹ trút xuống quê hương, những câu thơ em viết trăn trở, có sức nặng:

Cao hơn trang thơ, hơn cả cuộc đời
Là Tổ quốc đang một còn một mất...
Đêm em nằm thức với quê hương
Mỗi vì sao gợi một niềm Đất Nước
Các anh đi quét sạch quân xâm lược
Em ở nhà, lòng bứt rứt sớm trưa
Biết bao điều em không nói được bằng thơ...

Những nhà thơ tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc luôn day dứt, trăn trở về đất nước, về con người và tình yêu sâu nặng đến như vậy, sao ai đó nỡ nhận định thơ văn thời kỳ ấy chạy theo phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền chính trị, cổ động hô hào mà chưa có chiều sâu, chưa có sức nặng? Đánh giá một nền văn học nghệ thuật là đánh giá ở những tác giả tiêu biểu, những đỉnh cao, chứ không nên thông qua một nền rộng ở tầm trung bình! Tất nhiên là tôi hiểu mối quan hệ biện chứng giữa nền và đỉnh. Nhưng việc xác định đâu là nền cũng là một công việc đòi hỏi sự khách quan, khoa học, không phải ai cũng làm được.

Day dứt, trăn trở là trạng thái có tính chất đặc trưng của tâm hồn văn nghệ sĩ. Còn sự nuối tiếc thì ở một cấp độ, một tầng nấc khác. Thơ tình yêu của nhân loại có thể xếp cao như núi, nhiều như nước biển, nhưng viết về sự nuối tiếc của nàng Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã có một câu thơ thiên tài độc đáo: "Biết thân đến bước lạc loài/ Nhị đào thà bẻ cho người tình chung". Một câu thơ thanh nhã mà hiện đại, đặc sắc chưa thấy ở nền thơ của nước nào! Trong thơ ca dân gian, tôi thấy sự nuối tiếc cũng được đề cập đến, đặc biệt là sự nuối tiếc trong tình yêu:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay....;
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi, những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra"...

(Có thuyết cho rằng đây là thơ của Đào Duy Từ trả lời chúa Trịnh khi chúa Trịnh mời ông hợp tác, khi ông vừa vào Nam được chúa Nguyễn trọng dụng). Văn học dân gian còn có một sự nuối tiếc đặc biệt khác, mà tôi thấy vô cùng độc đáo: "Tưởng giếng sâu, anh nối sợi dây dài/ Nào ngờ giếng cạn, anh tiếc hoài sợi dây!". Thì ra, nuối tiếc không chỉ là nuối tiếc những điều không thể làm lại, mà còn nuối tiếc cả những điều có thể làm lại. Làm lại được mà vẫn nuối tiếc thì đấy là sự nuối tiếc có chiều sâu hơn!

Hà Nội, 19/9/2010

Đ. Q. T
.
.