Người con xứ Đoài và giải thưởng của quê dừa Đồng Khởi
Thiếu tướng, nhà văn Khổng Minh Dụ từng là một người lính có quá trình 10 năm chiến đấu tại chiến trường miền Nam. Vừa biết tin ông sẽ được tỉnh Bến Tre trao tặng Giải thưởng Văn học nghệ thuật mang tên nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu vào dịp kỷ niệm lần thứ 191 ngày sinh của nhà thơ (1/7), chúng tôi đến chúc mừng ông...
Còn nhớ, cuối năm 1965, nhà văn Khổng Minh Dụ nhận quyết định lên đường chiến đấu với tấm thẻ căn cước giả mang tên Đỗ Văn Nga - một lính Sư đoàn 7 của thực dân Pháp. Năm 1954, ông Nga tập kết vào miền Nam, đóng quân ở Trà Vinh. Do bị yếu tim, ông Nga được giải ngũ về cư ngụ tại Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương làm nghề dạy học. Bình phong chức nghiệp với cái tên, quê quán và nghề nghiệp giả ấy để hoạt động bí mật trong lòng địch. Song trước các chiến dịch đôn quân, bắt lính của địch, xét thấy để Khổng Minh Dụ hoạt động hợp pháp không đảm bảo an toàn, cấp trên quyết định đưa ông về công tác tại bộ phận căn cứ cụm tình báo chiến lược có bí số B48, thuộc Cục Nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu (Cục 2, nay là Tổng cục 2 - Bộ Quốc phòng). Căn cứ bám trụ tại huyện Châu Thành và Bến Cát. Đầu năm 1969, Khổng Minh Dụ được điều động về công tác ở cụm tình báo H67, căn cứ bám trụ tại mật khu Bời Lời, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh và cuối năm đó, để đánh lạc hướng theo dõi của địch, cụm H67 chuyển địa bàn bám trụ về tỉnh Bến Tre, tạm thời tá túc tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm. Tháng 1/1970, tổ trinh sát của Khổng Minh Dụ có 4 người đi từ huyện Giồng Trôm về huyện Châu Thành, được cơ sở giới thiệu về xã An Phước liên hệ xây dựng căn cứ. Địa thế của An Phước quả là thuận lợi cho một cụm tình báo bám trụ để liên lạc với các lưới điệp báo nội thành. Bởi từ An Phước chỉ đi chừng 8 cây số là đến phà Rạch Miễu, qua con sông Tiền là tới Mỹ Tho. Từ Mỹ Tho về Sài Gòn không bao xa, rất thuận lợi cho giao thông viên chuyển tin tức, tài liệu về căn cứ… Là người yêu thích văn học nghệ thuật từ khi còn là học sinh phổ thông, lớn lên, đi bộ đội, tập viết văn, làm thơ, với Khổng Minh Dụ, thơ như là một loại nhật ký ghi lại cảm xúc trên mọi nẻo đường công tác, chiến đấu của ông.
Nhà văn Khổng Minh Dụ kể: "Tháng 1/1970, chúng tôi vượt sông Ba Lai về xã An Phước. Trời nắng, anh em chúng tôi ngồi nghỉ dưới rặng cây. Đây là vùng đất ở thế cài răng lược, ta và địch tranh chấp nhau từng tấc đất. Chỗ chúng tôi ngồi thuộc vùng giải phóng của An Phước. Đó là khu vườn cũ của bà con, đã bị địch bắt ép vào ấp chiến lược và chỉ cho phép về thu hoạch cây trái từ 7 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Bỗng chúng tôi nhìn thấy xa xa có hai cô gái quẩy gánh dừa đi tới, sau này biết đó là hai chị em ruột, tuổi chừng mười tám đôi mươi. Cách chúng tôi một quãng, hai chị em đặt gánh đi xuống rạch nước rửa mặt. Nắng non trưa, nhìn bóng hai cô gái trẻ nước da như hồng lên sao thấy thanh bình đến thế! Rồi hai cô bê nón tới chỗ chúng tôi với lời mời ngọt lịm: "Mời mấy anh ăn dâu đầu mùa, đây là dâu vườn nhà em vừa hái…". Ôi những quả dâu da với vị chua pha ngọt ăn vào đến đâu biết đến đấy, dường như tôi được ăn lần đầu. Trong không khí thân tình ấy, tôi hỏi chuyện, thì ra hai chị em là người ấp 2, xã An Phước này. Cô chị tên là Hai Vân cùng người em gái Ba Hồng kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện về quê hương mình. Nào chuyện An Phước đánh giặc giữ đất, nào chuyện các cô giúp du kích, bộ đội, làm liên lạc; nào chuyện ông già mù tên là Sáu Lé, không chịu vào khu gom dân của địch, quyết bám trụ ven đồng theo dõi càn quét của địch để báo cho du kích thông qua tiếng hú của mình… v.v… Cứ thế, cứ thế, qua giọng kể tự nhiên của các cô, một An Phước hiện lên hiên ngang và quật khởi trong cuộc chiến đấu với quân thù. Nét đẹp dịu dàng, kiên gan của người con gái tóc dài Bến Tre với giọng nói dịu dàng xao xuyến giữa nắng trưa pha với hương thơm, vị ngọt chùm dâu da đã tạo cảm hứng trong tôi, để đêm hôm đó, giữa rừng dừa An Phước, dưới ngọn đèn dầu, tôi đã viết bài thơ "Mùa dâu chín"! Ấy chỉ là những vần thơ giản dị, ngôn ngữ thấm đẫm vùng dừa Bến Tre quật khởi với tình người, tình đất rất đỗi thân quen".
![]() |
| Nhà văn Khổng Minh Dụ (bên trái) cùng nhân vật “Em” trong bài thơ “Mùa dâu chín” (bên phải) và ông già - nhân vật trong ngắn “Tiếng hú ven đồng” (thứ 2 từ trái qua) tại An Phước năm 2012. |
Rồi giữa trưa của ngày kỷ niệm giải phóng miền Nam này, nhà văn Khổng Minh Dụ đã đọc tôi nghe: "Nhớ buổi gặp em/ Giữa mùa dâu chín/ Đưa tôi chùm dâu em cười bẽn lẽn/ Ăn đi anh, chùm dâu ngọt quê nghèo/ Tôi mải ngóng trông theo khi gánh dừa mươi đôi kẽo kẹt theo em về xóm nhỏ…/ Lần thứ hai gặp lại/ Tôi trở thành quen thân/ Đến thăm em, em kể chuyện xa gần/ Chuyện quê hương An Phước giặc vô là tan xác/ Chuyện ông già mù xóm trên và tiếng hú ven đồng/ Chuyện riêng bót Cầu Đình ta diệt tên thứ một trăm/ Chuyện em đi dân công/ Em làm liên lạc/ Đưa cuốn sổ hồng em bảo tôi ghi bài hát/ Chép thật nhiều nghe anh/ Em thích bài ca "Giọng nói Bác Hồ"…
Bài thơ ngay sau đó được in trong Tạp chí Văn nghệ Đồ Chiểu Bến Tre, rồi năm 1971 được in lại ở Tạp chí Văn nghệ khu 8. Năm 1976, khi đã trở lại miền Bắc, Khổng Minh Dụ về thăm vợ con ở tỉnh Yên Bái. Sáng chủ nhật hôm đó, ông ra vườn giúp vợ rẫy cỏ, nhưng không quên mở chiếc đài National trong căn nhà nhỏ bắt sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Bỗng thấy vợ ông chạy ra vườn gọi thất thanh: "Anh Dụ, anh Dụ, anh vào ngay! Đài đang hát bài "Mùa dâu chín" của anh. Vọng cổ, hay lắm". Ông buông cuốc chạy vào, vặn to đài lên. Chao ôi, xúc động làm sao, bài thơ viết năm 1970 của ông được soạn giả Hồng Quân chuyển thể vọng cổ với tên gọi "Chuyện mùa dâu chín" đang được hai nghệ sĩ Thanh Tuấn và Thanh Kim Huệ trình bày. Chao ôi, giọng ca ngọt ngào như hương vị trái dâu da mà ông được cô gái An Phước mời cách 6 năm về trước. Khổng Minh Dụ vui lắm, người lâng lâng như đi trong mây… Ông nôn nao nhớ về An Phước, nhớ về quê dừa Đồng Khởi, nơi có đồng đội, đồng chí, đồng bào - những người mà suốt đời này ông phải mang ơn họ. Chính họ đã đùm bọc, che chở cho ông và đồng đội của ông trong những tháng năm đầy gian nguy, thử thách. Họ đã cùng sẻ chia những mất mát hy sinh, đồng cam cộng khổ với những chiến sĩ như ông.
Bởi vậy, sau này dường như ông miệt mài và lặng lẽ viết nhiều bài báo, truyện ngắn, bài thơ về những người đồng đội, đồng chí, đồng bào của mình từng sống chết ở vùng đất quật khởi này. Ông bảo, có viết bao nhiêu cũng không nói hết được chiến công và những mất mát, hy sinh của bao đồng chí, bà con nơi ông được che chở, đùm bọc.
Nhà văn Khổng Minh Dụ "bật mí": Về thơ, cùng với bài "Mùa dâu chín", tình đất, tình người Bến Tre đã tạo cảm hứng để ông sáng tác nhiều bài thơ khác như: "Du kích An Phước", "Mùa tết đến", "Duyên quê"… Cùng với thơ là văn xuôi với hàng chục bài ký sự, truyện ngắn như: "Đọ sức", "Giữ đất', ''Tiếng hú ven đồng'', "Đìa rau nhút", "Cỏ trong rào bót", "Giấc mơ của người đã khuất"… Ấn tượng sâu sắc nhất trong ông đó là truyện ngắn "Vùng tử địa" với nguyên mẫu là chị Năm Đời (thường gọi là Năm Ngọng) vì chị bị khuyết tật giọng nói từ nhỏ. Chị là linh hồn của nhiều cuộc đấu tranh chính trị, đứng đầu "đội quân tóc dài" từ xã Châu Bình - Giồng Trôm (quê chị) kéo lên thị xã Kiến Hòa (Bến Tre) đấu tranh đòi dân sinh dân chủ; chống bắt phu, bắt lính; chống đàn áp dân chúng; chống gom dân vào ấp chiến lược… Đồng thời, Năm Ngọng còn là một Bí thư chi bộ kiên cường, bất khuất của xã Châu Bình.
Hẳn ít người biết, cách đây một năm, năm 2012, nhân Ngày Chiến thắng 30 tháng 4, nhà văn Khổng Minh Dụ đã gom tiền nhuận bút làm lưng vốn hành hương về phương Nam. Xưa ông đi bộ vượt Trường Sơn, tóc còn xanh, nay vị tướng 70 tuổi vẫn đầy tình yêu về lại với chiến trường xưa. Ông về Châu Thành, Bến Tre, về đúng xã An Phước. Những người dân ngày nào nuôi ông, che giấu ông dưới hầm bí mật, những đồng đội, những du kích, những người lính thủy chung một thuở còn sống đã tề tựu về An Phước đón ông. Những nhân vật, những nguyên mẫu trong sáng tác của ông ngày nào bây giờ trở lại đón tác giả như đón một người con An Phước đi xa trở về. Cả người con gái năm xưa, cô Hai Vân - nhân vật xuyên suốt trong bài thơ "Mùa dâu chín", nay đã ở tuổi 60 và cách xa gần 40 cây số cũng trở lại, cả ông già mù trong truyện ngắn "Tiếng hú ven đồng" cũng nhờ con dắt sang. Tôi bỗng nghĩ, trên thế giới này, thật hiếm có một cuộc hội ngộ nào giữa nhà văn áo lính với những nguyên mẫu văn chương trong chiến tranh lại nặng tình đến thế! Hẳn ngày còn là người lính trẻ, chỉ yêu văn chương mà tập tọe cầm bút viết, dưới hầm sâu vùng địch hậu hay giữa chiến trường khói lửa, Khổng Minh Dụ và những người lính cầm bút thế hệ ông, không ai nghĩ những dòng văn ám khói lửa ấy lại có thể sống sót cùng ông đến ngày hôm nay… Để thế hệ sau chiêm nghiệm, chắt lọc từ những câu chữ giản dị từ gần nửa thế kỷ để tặng ông giải thưởng mang tên một nhà thơ nổi tiếng với lời ký thác "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà!".
Nhà văn Khổng Minh Dụ từng nhận được nhiều giải thưởng, nhưng có lẽ ở tuổi 70, đây là giải thưởng văn chương mà ông thấy thao thiết lắm, thao thiết như cái dáng ông ngồi nhớ về Bến Tre thời khói lửa chưa xa…

