Đọc tập thơ “Thơm từ nỗi đau” của Hoàng Thụy Anh

“Thơm từ nỗi đau” hay bản lĩnh tính nữ

Chủ Nhật, 08/03/2026, 08:38

Nếu tập thơ đầu tiên “Người đàn bà sinh ra từ mưa” là tiếng khóc nguyên thủy thì “Thơm từ nỗi đau” là bản tụng ca của sự thức tỉnh, nỗi đau được gạn thành hương, nước mắt hóa sen. Hoàng Thụy Anh bồi đắp tiếp hành trình người nữ bản lĩnh kinh qua bão tố, đưa thơ vào miền nghiệm suy của triết học từ bi.

Giữa dòng thơ đương đại Việt Nam, nhiều tiếng nói nữ giới đang tìm cách định danh bản thể, Hoàng Thụy Anh từ lĩnh vực lý luận phê bình, đã đến với thơ bằng sự dịu dàng mà bền bỉ, mềm như sương nhưng sâu như mạch nước ngầm, là một trong những tiếng nói nữ mang đậm sắc thái triết, mỹ và tâm linh.

Nếu tập thơ đầu tiên “Người đàn bà sinh ra từ mưa” là tiếng khóc nguyên thủy thì “Thơm từ nỗi đau” là bản tụng ca của sự thức tỉnh, nỗi đau được gạn thành hương, nước mắt hóa sen. Hoàng Thụy Anh bồi đắp tiếp hành trình người nữ bản lĩnh kinh qua bão tố, đưa thơ vào miền nghiệm suy của triết học từ bi.

“Thơm từ nỗi đau” hay bản lĩnh tính nữ -1
Nhà thơ Hoàng Thụy Anh.

Ngay nhan đề “Thơm từ nỗi đau” đã là một tuyên ngôn thẩm mỹ. “Thơm”- hương, là cái còn lại sau đổ nát; “nỗi đau”- phần bóng tối của kiếp người. Khi hai chữ ấy đặt cạnh nhau, ta nhận thấy quy luật về sự chuyển hóa: khổ đau qua lòng nhân ái sẽ thành hương thơm và cái đẹp. “Thơm” là hương vật chất, là tinh chất của linh hồn, còn “nỗi đau” là chất xúc tác cho sự sáng tạo. Trong bài thơ kết tinh cho toàn tập, nhà thơ viết:

đã khép lại một mùa sen
trong em
vẫn nguyên thủy một mùa sen...
rồi một mùa sen sẽ tái sinh giữa chúm chím môi em
tôi sẽ đặt lên đó
linh hồn của tôi...
tôi học sen
thơm
              từ
                 nỗi đau.

(Thơm từ nỗi đau)

Từ bùn của kiếp người, sen vươn lên trong trẻo. Đó là hình tượng người đàn bà Hoàng Thụy Anh đi qua gió sương lội trong nước mắt vẫn giữ hương thơm riêng mình.

Thơ Hoàng Thụy Anh luôn hướng về nữ thể như nguồn sáng tạo nguyên sơ. Thi ảnh dòng sông, giọt sữa, cánh đồng hay mùi hương, nhịp thở đều mang vết dấu của cuộc sinh nở liên hồi. Trong “Phục sinh”, chị viết: “nhặt hạt đêm chơi trò ô ăn quan/ em chia đều từng số phận” để “em cứu niềm tin đang rạc cánh trong chiếc phễu đời”. Hành động “chia đều từng số phận” vừa là trò chơi của đứa trẻ, vừa là nghi lễ thiêng của người mẹ. Cái nhìn của nhà thơ nữ là cái nhìn nuôi dưỡng, bao dung nhưng không tránh né nỗi đau: “chợt thèm bàn tay cư trú xuyên qua kẽ nứt đỉnh đau/ nghiệm/ giấc phục sinh”.

Nỗi đau là chất xúc tác cho người nghệ sĩ chạm đến chiều sâu tâm thức, rồi từ đó chiết xuất nội lực sáng tạo. Hoàng Thụy Anh đã sử dụng sự quán chiếu thâm sâu nội tâm và trải nghiệm sống làm nhãn quan để khắc họa hình tượng người nữ trong thơ:

đụn cát không ngồi yên
chạy theo bước chân gió…
trên vai người đàn bà Đông phương
đôi quang gánh thiêm thiếp mùa rạ rơm
chuyển động trong tôi
những bông cỏ những phận người
lấp lánh theo con nước.

(Người đàn bà Đông phương)

Giọng thơ Hoàng Thụy Anh có nhịp thở của lao động và sự tĩnh tại của thiền.

Những người mẹ quê lam lũ, qua ngòi bút Hoàng Thụy Anh, hiện thân cho biểu tượng của sức chịu đựng và vẻ đẹp thầm lặng, nhẫn nại của nữ giới. Sự “chuyển động” này vượt khỏi giới hạn hình thể, xoáy vào sự chuyển động của “hiện thực” tâm hồn.

Thơ Hoàng Thụy Anh được tạo nên từ chất liệu siêu thực. Thi ảnh vượt qua sự miêu tả để liên tưởng tự do, chập chờn giữa hai thế giới. Trong bài “Ánh sáng” chị viết:

những chiếc rễ ánh sáng xuyên qua thành phố
xóa nỗi trống rỗng trên gương mặt người.

Ánh sáng ở đây được chị coi là một thực thể sống. Ánh sáng có “rễ”. Ánh sáng biết cắm vào mặt đất, biết “xuyên qua”, biết chữa lành “gương mặt người”. Hình ảnh phi lý siêu cảm mà đầy ám ảnh thị giác, gợi liên tưởng đến hội họa siêu thực. Cũng tương tự như vậy, trong “Vẻ đẹp khởi đầu”:

gieo một giọt sương
con sóng hót lời nhẹ tênh
thêm một chớp mắt
bình minh phì nhiêu di-ngữ-cỏ
thời gian nằm ngoài lời nói
nỗi niềm câu thúc tận cùng yên ắng
chỉ còn lại vô thường.

Hình ảnh giọt sương, con sóng và thời gian chủ động tan chảy vào nhịp trôi phi trọng lượng, đưa người đọc vào không gian trầm tư để thấu triệt tính vô thường.

Ở nhiều bài, thơ Hoàng Thụy Anh xây dựng cấu trúc như một nghi lễ huyền diệu. Nhịp thơ đảo ngữ, các cặp lặp liên hoàn tạo tác vòng xoáy vô tận về sự tái sinh:

mưa rót vào đêm
đêm rót vào mưa
như bóng rót vào bóng
làm đầy nhau
khởi đầu để tận cùng
tận cùng để khởi đầu.

(Song hành)

“Thơm từ nỗi đau” hay bản lĩnh tính nữ -0
 Tập thơ “Thơm từ nỗi đau” là bản tụng ca của sự thức tỉnh.

Cái siêu thực trong thơ Hoàng Thụy Anh sinh ra từ trực giác nữ giới, từ cách chị nhìn thấy những rung động tế vi trong đời sống ngỡ quen thuộc. Cái thực và cái mộng hòa vào nhau tạo tầng cảm xúc mong manh mà ám ảnh.

Thơ Hoàng Thụy Anh là nỗi đau được chắt lọc qua lòng từ bi, luôn luôn hướng tới sự trong sáng sau bóng tối. Ở bài “Gội rửa” chị viết:

giữ chặt cái bóng cho nhau
những phận-người-thức ngược chiều im lặng

(…)

tôi gói những giọt nước mắt
những giọt nước mắt buốt mùi đồng
thơm hơn im lặng người.

Cụm từ “thơm hơn im lặng người” là phẩm hương của sự tỉnh thức. Nước mắt được giải phóng khỏi sự bi lụy trở thành tín hiệu của sự thanh khiết. Ngay cả khi viết về bi kịch xã hội, ở những bài thơ như: “Nước mắt”; “Phận người”; “Phía sau một viên đạn”, Hoàng Thụy Anh vẫn giữ giọng điệu từ bi, an nhiên để nỗi đau tự tỏa sáng:

những đứa trẻ bước vào xứ sở này
chúng tự thắp ánh sáng cho mình
trái đất căng tràn
lăn mãi về phía nước mắt.

Hình ảnh “trái đất lăn về phía nước mắt” phi lý về mặt vật lý nhưng có lý, logic về mặt triết mỹ. Sự sống vẫn tiếp diễn trong khổ đau và nhân loại vẫn mải miết đi tìm điểm tựa của lòng nhân ái.

Với “Thơm từ nỗi đau” Hoàng Thụy Anh đã đi từ bóng tối đến hương thơm, một cuộc tự giải cứu đầy bản lĩnh của người nữ. Ở phần cuối tập thơ, người đọc gặp những bài như “Đối diện”; “Định vị tôi”; “Làm mới bản ngã”; “Bóng tối"... đã đưa thơ chị vào chiều sâu triết học.

Người nữ Hoàng Thụy Anh không ngừng đối diện với “cái bóng”, với “bản thể”: “tôi là kẻ dại khờ mọc lên từ phía mơ hồ/ tự do như ánh sáng thiên di”. Hoặc: “nếu bạn soi vào cái bóng/ tâm hồn bạn sẽ không ngừng tái sinh”. Có thể xem đây là tuyên ngôn về sự tự giải phóng bản thể nữ tính của chị. Người đàn bà tự soi vào bóng tối để tìm ánh sáng, dũng cảm đi qua tổn thương để giữ lại hương đời.

Trong "Mẹ", một trong những bài xúc động nhất của tập thơ, Hoàng Thụy Anh khẽ hát:

cánh đồng trở dạ những vì sao
những vì sao rỏ hai đầu mưa nắng
chan gầy giấc mơ.

Những câu thơ này là bản giao hưởng của sự sinh thành, hôn phối vũ trụ và người mẹ trong nhịp điệu của sáng - tối, mưa - nắng, sống - chết.

“Thơm từ nỗi đau” là tập thơ của nhận thức và thức tỉnh. Giữa những biến động của đời sống, Hoàng Thụy Anh thu mình lại, chọn lối vào bên trong tâm hồn. Chị chọn đau để hiểu, chọn khóc để bay, chọn nỗi cô đơn như cửa ngõ dẫn về lòng nhân ái. Từ những bài thơ ngắn như “Ánh sáng”; “Ngời”; “Tận cùng”, đến các trường đoạn triết luận như “Phía sau một viên đạn”; “Bài học”; “Bóng tối”, giọng thơ chị luôn giữ độ mềm, độ sáng, độ thiền.

Cái siêu thực trong thơ Hoàng Thụy Anh là cách chị đã làm cho hiện thực trở nên lung linh. Nỗi đau được nhân đôi mà vẫn thơm. Nước mắt bay lên, thăng hoa thành thơ, hiển lộ phẩm tính sen.

Đó cũng là định nghĩa đẹp nhất về thơ nữ đương đại. Mỹ học nữ tính siêu thực được khai mở từ niềm đau với sức mềm, chiều sâu và tính dẻo dai đã được Hoàng Thụy Anh hiện thực hóa bằng bản lĩnh ngôn từ và tấm lòng nhân ái. Đó là dòng nước biết hát trong đêm, là hạt sen nở trong cơn bão, là người đàn bà đi qua gió sương mà vẫn tỏa thơm cho đời. Tin rằng, với sự mềm mại nữ tính, thơ và đời của Hoàng Thụy Anh sẽ cùng nhau từ nước để “Chúng ta bay lên”.

Đỗ Thành Đồng
.
.