Tướng quân Trần Tử Bình
Ông đã từng lãnh đạo 5.000 công nhân làm nên một "Phú Riềng đỏ". Trần Tử Bình cũng là một trong những người trực tiếp lãnh đạo quần chúng chiếm Phủ Khâm sai và các cơ quan chính quyền tay sai trong Cách mạng Tháng Tám tại Hà Nội...
Một “Phú Riềng đỏ”
Giữa năm 1927, trong những đoàn người đi phu đồn điền cao su vào
Người ốm, kẻ đau, cảnh đánh chửi nhau thường xảy ra; song hết thảy mọi người đều quý trọng anh Phu. Bởi lẽ, anh Phu hay giúp đỡ mọi người, tính tình thẳng thắn... Hơn nữa, anh Phu là người có chữ nghĩa, sẵn lòng viết giúp anh em vài dòng tâm sự gửi về quê hương. Vậy là, trong suy nghĩ của những người tha hương, anh Phu trở thành một “thủ lĩnh” của họ.
Theo hợp đồng với chủ thầu, tiền ăn mỗi người 2 xu một bữa, nhưng do bị bòn rút nên tính ra chỉ được 1 xu. Hầu hết anh em phu đều mù chữ nên những bản hợp đồng in sẵn – như những chiếc thòng lọng, do bọn chủ đưa ra để họ điểm chỉ và họ đã vô tình bán đứt tự do, thậm chí cả tính mạng của mình cho chủ cao su.
Một số anh em khác còn bị bọn cai thầu ăn chặn tiền tạm ứng, 10 đồng thì chỉ được nhận 6 đồng. Anh Phu đã phát động cuộc đấu tranh với nhà thầu. Tên thầu khoán của chủ đồn điền là Phan Tất Tạo buộc phải có mặt trước sự tuyệt thực, phản đối của mấy trăm phu, để chứng kiến sự phẫn nộ của những người phu cùng khổ.
Tên Tạo buộc phải thực hiện đúng hợp đồng, trả đủ tiền tạm ứng và chấm dứt bớt xén khẩu phần ăn của anh em phu. Đó là cuộc đấu tranh tự phát của những người bị bóc lột... không có ban lãnh đạo, không có tổ chức. Với vai trò là người nêu vấn đề, anh Phu lại càng được anh em tín nhiệm.
Cuộc tập dượt đầu tiên trước khi xuống tàu của mấy trăm công nhân cao su tương lai đã thu được kết quả đầy ý nghĩa.
Trước khi có “Phú Riềng đỏ” vào đầu năm 1930, tháng 10/1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên của Phú Riềng ra đời. 6 đảng viên đầu tiên, trong đó có Phạm Văn Phu, đã thể hiện rõ “sứ mệnh” đội tiên phong của giai cấp công nhân.
Một số tổ chức bí mật đầu tiên được thành lập trong công nhân như Nghiệp đoàn, Xích vệ đội. Ngoài ra, chi bộ đã giành được ảnh hưởng với những tổ chức hợp pháp có sẵn như Hội tương tế, Hội cứu tế, các đội thể thao, văn nghệ... để tranh thủ quần chúng về mình.
Để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh, Chi bộ Phú Riềng đã chỉ đạo công tác chuẩn bị trong thời gian dài: Các làng công nhân đều cử người cất giấu kỹ trong rừng những nhu yếu phẩm như gạo, muối, cá khô; phân công lực lượng chiếm kho gạo của đồn điền khi cuộc bãi công nổ ra và chuẩn bị một số vũ khí.
Trước ngày nổ ra bãi công, chi bộ đã tổ chức vận động đồng bào Thượng đồng loạt bỏ làm xâu trở về buôn làng. Mục đích đấu tranh được đặt ra nhằm đạt mục đích như: cấm đánh đập; cấm cúp phạt; miễn sưu thuế; trả lương cho nữ công nhân nghỉ đẻ; ngày làm 8 tiếng...
Đúng sáng mùng 1 Tết Canh Ngọ (30/1/1930), 5.000 công nhân Phú Riềng kéo đến Dinh chủ đồn điền Su-ma-nhắc, dưới hình thức múa lân mừng năm mới và đưa ra những yêu sách. Trước khối đông đầy khí thế, Su-ma-nhắc buộc phải hứa hẹn xem xét.
Đến ngày mùng 3 tết, một lá cờ búa liềm được kéo lên. Anh em công nhân trầm trồ nhìn ngắm lá cờ đỏ rực như bầu máu nóng sục sôi của những người bị áp bức. Đã đến giờ đi làm, bọn Tây rúc còi mỏi mồm nhưng không ai ra điểm danh...
Hàng ngàn công nhân bao vây dinh đồn điền, đòi phải đáp ứng yêu sách. Một đội lính khố đỏ gồm 25 tên kéo tới, súng lăm lăm trong tay. Sau loạt súng thị uy của bọn lính, tên đội Tây chĩa súng thẳng vào đoàn người chuẩn bị bóp cò thì bị một đội viên Xích vệ nhảy tới nện một cán cuốc, khiến hắn bị gãy tay, rối rít kêu: “Thôi, thôi, đừng đánh quan lớn! Quan lớn không bắn nữa!”... Bọn lính cũng hoảng sợ bỏ chạy, anh em công nhân thu được 7 khẩu súng và bắt được 5 tên lính.
Trước thắng lợi ban đầu, khí thế dâng cao ngùn ngụt. Hàng trăm công nhân khác ùn ùn kéo đến bổ sung lực lượng. Su-ma-nhắc buộc phải tiếp đại diện công nhân và đáp ứng tất cả yêu cầu do công nhân đưa ra.
Cuộc đấu tranh lan rộng sang một số khu vực, nhà máy khác; thu được những kết quả đầy ý nghĩa. Dù sau đó, cuộc đấu tranh của công nhân cao su Phú Riềng bị đàn áp, song cuộc tập dượt lớn đầu tiên đã giúp họ ý thức được vai trò lịch sử của mình. “Phú Riềng đỏ” trở thành một mốc son trong lịch sử cách mạng Việt
Vị tướng quân - đại sứ
Sau những thăng trầm cùng phong trào cách mạng, Phạm Văn Phu đổi tên thành Trần Tử Bình – với ý nghĩa một cuộc đời phong trần, lãng tử, suốt đời đấu tranh cho độc lập và hòa bình của Tổ quốc.
Tháng 3/1945, Trần Tử Bình vượt ngục Hỏa Lò, rồi được cử vào Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ. Vào thời khắc “Một ngày bằng hai mươi năm” của những ngày Tháng Tám năm 1945 lịch sử, Trần Tử Bình là một cốt cán của Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội.
Đại tá Lê Trọng Nghĩa, nguyên Ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội, một trong những người đầu tiên tiến vào Phủ Khâm sai trưa ngày 19/8/1945, nhớ lại: Sau khi đã cùng tôi và anh Nguyễn Khang tiến vào Phủ Khâm sai, nhân danh đại diện Ủy ban cách mạng, anh Trần Tử Bình tiến thẳng đến nơi làm việc của Nguyễn Xuân Chữ, lãnh tụ đảng Đại Việt, cầm đầu “Ủy ban chính trị” bù nhìn, ra lệnh hắn phải đầu hàng; hắn bị hai tự vệ trói lại, giải đi.
Thấy trong phòng có hệ thống máy thông tin, anh Trần Tử Bình quay gọi cho các tỉnh trưởng và thị trưởng Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh... biết Việt Minh đã khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội; yêu cầu họ phải chấp hành mệnh lệnh của Việt Minh, mau chóng giao chính quyền, nếu không sẽ bị xử lý...
Cùng lúc, một số tỉnh trưởng, tri phủ, tri huyện hoảng hốt gọi điện về Phủ Khâm sai để xin ý kiến, đều nhận được mệnh lệnh dứt khoát của anh Trần Tử Bình: “Lập tức trao quyền ngay cho Việt Minh”.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Trần Tử Bình được cử vào Quân đội. Thu đông 1947, đồng chí Trần Tử Bình chỉ huy mặt trận Đường số 2 – Sông Lô, đập tan một trong hai gọng kìm của quân Pháp tiến quân lên Việt Bắc hòng bắt giữ cơ quan đầu não kháng chiến.
Với những thành tích và chiến công lập được, ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 112/SL phong hàm Thiếu tướng cho đồng chí Trần Tử Bình; ông trở thành 1 trong số 11 vị tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1959, cách mạng nước ta đứng trước những thời cơ mới. Nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước anh em, đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch quyết định điều động một số cán bộ quân đội có nhiều kinh nghiệm hoạt động sang ngành ngoại giao. Thiếu tướng Trần Tử Bình được cử làm Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt
Vào những năm 1960, Đại sứ Trần Tử Bình đã góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc với cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam.
Trong một lần tháp tùng Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị thăm Trung Quốc, sau đàm phán, bạn đồng ý viện trợ một số lượng hàng hóa cho Việt Nam; trong đó có 2.000 xe vận tải ba cầu Giải Phóng.
Phía Việt
Với uy tín và mối quan hệ tốt với các đồng chí Trung Quốc, Đại sứ Trần Tử Bình đã thay mặt đoàn vận động bạn và đề nghị: “Vậy các đồng chí viện trợ cho chúng tôi thêm 500 đến 1.000 xe nữa, nếu khó khăn thì có thể cấn trừ vào khoản khác. Khi cần chúng tôi có thể lấy phụ tùng của xe chưa sử dụng thay vào xe hỏng hóc”. Đề nghị này nhanh chóng được phía bạn chấp nhận.
Thiếu tướng - Đại sứ Trần Tử Bình là người sống rất tình cảm. Năm 1956, Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn – người bạn chiến đấu thân thiết của Đại sứ Trần Tử Bình, qua đời.
Sáu năm sau, người con trai của Tướng Nguyễn Sơn là Tiểu Phong đang học cấp III ở Bắc Kinh, đã viết một bức thư gửi Đại sứ Trần Tử Bình. Đại sứ lập tức mời Tiểu Phong đến gặp và đã giúp Tiểu Phong hiểu thêm về người cha khả kính của mình.
Đại sứ căn dặn Tiểu Phong: “Cháu là cốt nhục của hai nước Việt-Trung, hãy xứng đáng với điều đó!”. Sau này gia đình Tướng Nguyễn Sơn đã sang thăm Việt
Thiếu tướng, Đại sứ Trần Tử Bình đã đi xa 40 năm (ông mất ngày 11/2/1967). Trong đám tang của ông, Bác Hồ và nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao, các đoàn thể trong và ngoài nước đã đến viếng, chia buồn cùng gia đình...
Thủ tướng nước CHND Trung Hoa Chu Ân Lai trong điện chia buồn đã viết: “Đồng chí Trần Tử Bình đã hoạt động không mệt mỏi và có những cống hiến quan trọng trong việc tăng cường mối tình hữu nghị chiến đấu anh em giữa nhân dân hai nước Trung - Việt”.
Ghi nhận công lao của ông, năm 2001, Đảng và Nhà nước đã truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho Thiếu tướng - Đại sứ Trần Tử Bình