Không ngừng bổ sung lý luận về đường lối đổi mới, củng cố cơ sở khoa học phản bác quan điểm sai trái, thù địch

Thứ Bảy, 21/03/2026, 07:36

Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng được hình thành từ thực tiễn đất nước vào những năm 80 của thế kỷ XX và tiếp tục được bổ sung, phát triển phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV nêu rõ, sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, không ngừng cải thiện đời sống, nâng cao hạnh phúc của nhân dân, nâng tầm uy tín, vị thế đất nước trên trường quốc tế. Sự thành công đó đã minh chứng đường lối đổi mới hoàn toàn đúng đắn của Đảng ta, do đó cần phải được bổ sung vào nền tảng tư tưởng của Đảng, không chỉ làm phong phú nền tảng lý luận của Đảng mà còn là cơ sở đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta.

Hiện nay, trước bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra nhanh chóng, sự bùng nổ thông tin, nguy cơ thông tin không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây khó khăn cho việc tiếp nhận, luận giải để hiểu đúng đắn, thấu đáo nền tảng tư tưởng của Đảng. Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, những khó khăn, thách thức của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; sự tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; nạn tham nhũng, tiêu cực... gây tác động tiêu cực đến niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Lợi dụng tình hình đó, thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng phủ nhận những thành tựu đã đạt được từ công cuộc đổi mới, kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ trên mọi lĩnh vực; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những âm mưu, hoạt động đó có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với đường lối lãnh đạo của Đảng. Tình trạng này đòi hỏi phải tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà một trong những yêu cầu là cần tiếp tục bổ sung, phát triển và khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới của Đảng, làm cho lý luận về đường lối đổi mới được thấm sâu, lan tỏa, tiếp tục trở thành nền tảng tư tưởng vững chắc, định hướng cho cách mạng Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo, là cơ sở khách quan để đấu tranh, phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về lý luận đường lối đổi mới của Đảng.

Năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta chỉ ra nguyên nhân sự giảm sút của sản xuất, khó khăn về mọi mặt những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX là do khuyết điểm, hạn chế trong đường lối lãnh đạo đất nước; từ đó, chỉ ra tính tất yếu phải đổi mới, sửa chữa sai lầm là sự lựa chọn đúng đắn và không thể nào khác. Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ra đời trong bối cảnh đó là đòi hỏi bức thiết của thực tiễn, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại.

Thực chất, lý luận về đường lối đổi mới không phải là xa rời mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc mà là phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những sai lầm trên tất cả các mặt, đồng thời, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới, bằng “những quan niệm đúng, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”. Lý luận về đường lối đổi mới đã bao quát trên tất cả các mặt: lý luận về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; về đặc trưng, phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội; về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; về kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; về giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ. Hiện nay, lý luận về đường lối đổi mới tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn mới.

Qua quá trình lịch sử, dưới sự dẫn dắt, định hướng và dẫn đường, lý luận đường lối đổi mới có vai trò vô cùng quan trọng, đã tạo sự đồng thuận, thống nhất về tư tưởng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, tăng cường lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và là nền tảng để xây dựng đại đoàn kết dân tộc, nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cho đến nay, bài học từ 40 năm đổi mới đất nước qua các kỳ đại hội vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục được phát huy; đặc biệt là bài học “đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX). Trong xu thế mới hiện nay, bám sát thực tiễn, Đảng tiếp tục đề ra những chủ trương, chính sách cụ thể với hàng loạt các Nghị quyết: Nghị quyết 57, 59, 66, 68, 79, 80. Có thể nói, tất cả các nghị quyết trên đều tiếp tục tinh thần đổi mới mạnh mẽ, hướng tới mục tiêu nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Sự đổi mới đường lối thường xuyên, liên tục chứng tỏ rằng, lý luận đó không giáo điều, dập khuôn, không xa rời thực tiễn mà luôn sáng tạo, song cũng không rơi vào chủ nghĩa xét lại. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam luôn vững vàng trước thực tiễn đầy biến động, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, phát triển hùng cường, thịnh vượng.

Trong bối cảnh hiện nay, để bảo vệ nền tảng tư tưởng, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, một mặt, cần phải tăng cường đấu tranh trực diện, bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Mặt khác, cần làm giàu sức sống của nền tảng tư tưởng đó bằng việc bổ sung lý luận, đường lối lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của nó. Lý luận đó ở mỗi giai đoạn đã tác động tích cực trở lại thực tiễn, mang lại sự thành công to lớn: “đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện”, văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, quốc phòng, an ninh được đảm bảo, vị thế chính trị đất nước được nâng cao trên trường quốc tế. Tuy nhiên, lý luận đường lối đó không phải “nhất thành bất biến” mà luôn được bổ sung, phát triển phù hợp với từng giai đoạn, trở thành kim chỉ nam tiếp tục soi đường, dẫn dắt cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.

Điểm nữa, có thể khẳng định rằng, bổ sung nền tảng tư tưởng của Đảng cũng chính là tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, góp phần không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, làm cho cán bộ, đảng viên nắm vững và tổ chức triển khai đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách hiệu quả trong thực tiễn, đưa tư tưởng thành hiện thực vật chất, làm cho nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng đi vào cuộc sống. Ngoài ra, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là thể hiện sự quán triệt sâu sắc tính cách mạng, tính khoa học, tính thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới.

Thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận vào dịp Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, các ngày lễ lớn của dân tộc nhằm tấn công, phá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước tình hình đó, việc bổ sung lý luận về đường lối đổi mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng là tất yếu, khẳng định vai trò lãnh đạo, dẫn đường của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, góp phần đưa đất nước ta “sánh vai” với các nước lớn trên thế giới - hiện thực hóa mong ước mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắn nhủ hậu thế.

PGS.TS Bùi Thị Tỉnh (Học viện Chính trị CAND)
.
.