Chào bạn!      
Trang nhất > Văn Nghệ Công An > Đời sống văn hoá
Nhà thơ Anh Ngọc: Những vui buồn cứ đòi được hát lên
8:51, 22/04/2011

Nhà thơ Anh Ngọc.

Anh Ngọc là một nhà thơ nhạy cảm và luôn có sự quẫy cựa trong nhận thức các vấn đề xã hội. Mạch sáng tạo trong anh thường không ào ạt, mà thong thả, có lúc loay hoay như đang cân nhắc một điều gì… khó nói.

Nhắc tới Anh Ngọc, nhiều bạn đọc thường nhớ ngay tới bài "Cây xấu hổ" trong chùm thơ đoạt giải nhì cuộc thi Báo Văn nghệ năm 1971-1972 của anh. Điều này kể cũng dễ hiểu: Đây là bài thơ có cấu tứ lạ, dựa trên đặc điểm của một loài cây vốn dĩ khá quen thuộc với người dân quê song lại rất hiếm khi được đưa vào thơ ca, và qua cách dẫn chuyện khéo léo, tác giả đã làm nổi bật sự hồn nhiên yêu đời của những chàng lính trẻ đang bám trụ tại một địa bàn khắc nghiệt, ở một thời điểm khốc liệt (bài thơ được tác giả viết tại đường 9, ngay trong "mùa hè đỏ lửa" năm 1972), từ đó góp phần tôn vinh một thế hệ ra trận và lưu lại hình ảnh đẹp về một loài cây biết giao cảm với con người: 

Bờ đường 9 có lùm cây xấu hổ
Chiến sĩ đi qua ai cũng mỉm cười 

Giữa một vùng lửa cháy bom rơi
Tất cả lộ nguyên hình trần trụi
Cây xấu hổ với màu xanh bối rối
Tự giấu mình trong lá khép lim dim 

Chiến sĩ qua đây ai cũng bước rất êm
Khi bất chợt thoảng một bàn chân lạ
Cây vội vã nhắm nghìn con mắt lá
Nhựa dồn lên, cành khẽ ngả như chào

Đó là sự miêu tả vừa tinh tế vừa chính xác về phản xạ thường tình của loài cây xấu hổ (còn gọi là cây trinh nữ) trước những va chạm dù là rất nhẹ của "một bàn chân lạ". Đến đây, cây cỏ không còn là cây cỏ nữa mà đã mang hồn vía của con người: "Người qua rồi bóng dáng cứ theo sau/ Anh lính trẻ bỗng quay đầu tủm tỉm/ Cây đã hé những mắt tròn chúm chím/ Đang thập thò nghịch ngợm nhìn theo".

Từ cái nhìn "nghịch ngợm" của cây, đã mở ra trong tâm tư người lính cả một khoảng trời đầy tiếng reo ngân của sự liên tưởng: "Phút lạ lùng trời đất trong veo/ Anh nghe có tiếng reo thầm gặp gỡ/ Nhiều dáng điệu thoáng qua trong trí nhớ/ Rất thân quen mà chẳng gọi nên lời". Và thế là, để giữ riêng cho mình những cảm xúc mà loài cây nọ gợi lên, người lính đã hái một cành xấu hổ "ướp vào trong trang sổ của mình", lòng tự nhủ thầm: "Và chuyện này chỉ cây biết với anh".

Không chỉ riêng trường hợp "Cây xấu hổ", nhiều bài thơ đoạt giải cao những năm tháng ấy thường có cách cấu tứ giàu sức khái quát (như "Lửa đèn" của Phạm Tiến Duật; "Hương thầm" của Phan Thị Thanh Nhàn; "Ngủ rừng theo đội hình đánh giặc" của Nguyễn Đức Mậu; "Khoảng trời - hố bom" của Lâm Thị Mỹ Dạ"…), song công bằng mà nói, "Cây xấu hổ" là một bài thơ có cách cấu tứ hơi khác với lẽ thường. Nói như Xuân Diệu là tác giả đã từ "phản ánh sự vật" nâng lên "cấu tạo tứ thơ", và mặc dù cái tứ thơ ấy đã chứng minh được "sức lục hóa của tâm hồn chiến sĩ ta" (bài "Công việc làm thơ", in trong bộ "Toàn tập Xuân Diệu", tập 5, NXB Văn học, 2001), thì theo tôi, từ đặc điểm của một loài cây, tác giả kéo mãi ra, kéo mãi ra để thành một tứ thơ như vậy, kể cũng mong manh dễ… đứt. Nó tạo cho người đọc cảm giác về một sự sắp đặt "già nhân tạo". Có lẽ vì thế mà sau này, khi một số bạn trẻ tiếp tục gặng hỏi về "Cây xấu hổ", tác giả của nó đã xua đi bằng một câu đại thể rằng, anh "xấu hổ" vì bài thơ "Cây xấu hổ". Vẫn biết, Anh Ngọc là một nhà thơ luôn có những đòi hỏi khe khắt về nghề, song nói gì thì nói, "Cây xấu hổ" sẽ vẫn là một bài thơ ý nhị khi ta đọc nó một mình, như một thứ kỷ niệm đẹp của thời quá vãng đáng được trân trọng lưu giữ trong sổ tay, còn khi đưa bài thơ ra đám đông để bàn luận, rọi đèn pha, thì việc tác giả có e ngại cũng là lẽ… đương nhiên.

Anh Ngọc là một nhà thơ nhạy cảm và luôn có sự quẫy cựa trong nhận thức các vấn đề xã hội. Mạch sáng tạo trong anh thường không ào ạt, mà thong thả, có lúc loay hoay như đang cân nhắc một điều gì… khó nói. Trước Đổi mới, anh là một trong những nhà thơ đầu tiên trong quân ngũ dám đề cập một cách sòng phẳng về những mất mát tinh thần của người lính những năm chiến tranh. Năm 1982, trong bài "Thơ mùa xuân đem đọc giữa mùa thu", anh đã không ngần ngại đặt bút viết "Những vui buồn cứ đòi được hát lên" và "Mùa xuân/ Mùa xuân đã cho anh tất cả/ Và lấy đi tất cả của anh". Bây giờ, đọc những câu thơ này, ta có thể thấy bình thường, nhưng ở thời điểm ấy, phải dũng cảm và trung thực với chính mình mới "dám" viết ra như vậy.

So với một số nhà thơ từng công tác tại nhà số 4 Lý Nam Đế (trụ sở tạp chí Văn nghệ Quân đội), Anh Ngọc có thể không phản ánh hiện thực cuộc chiến "sắc" bằng nhà thơ này; không kể chuyện tâm tình "ngọt" bằng nhà thơ kia, song anh lại là người luôn trăn trở với cái tôi trữ tình của mình, để rồi qua đó, tìm ra ý nghĩa tồn tại đích thực của một thi sĩ giữa thời đại có nhiều điều đổi thay và ngang trái. Nếu như trước đây, anh lao vào các chuyến đi và làm thơ như một người dân thị thành tích cực tham gia việc đồng áng, nhiệt huyết có thừa nhưng các thao tác chưa hẳn đã thuần thục thì sau này, như người được thể hiện đúng các ngón nghề sở trường của mình, hiệu quả sáng tác của Anh Ngọc nâng cao rõ rệt. Thơ anh ngày càng đậm tính triết luận. Đặc biệt, ở mảng thơ tình, Anh Ngọc đã như tìm thấy nguồn mạch của mình. Thơ anh trở nên sôi nổi, thậm chí hoạt náo, với nhiều biến thái của tình yêu: "Người mấy trăm năm làm rung chuyển những điệu chèo/ Làm điên đảo những phông màn khép mở/ Người táo bạo, người không hề biết sợ/ Người chưa từng lùi bước trước tình yêu/ Người phá tung khuôn khổ những điệu chèo/ Để cuộc sống ùa lên đầu cửa miệng/ Người trung thực đến không thèm giấu giếm/ Cặp môi hồng, con mắt ướt đung đưa" (bài "Thị Mầu"); "Khi người không yêu ta/ Buồn đã đành một nhẽ/ Khi ta không yêu người/ Sao cũng buồn đến thế/ Như đánh mất điều gì/ Lòng bâng khuâng khó tả/ Như thể mắc nợ ai/ Món nợ không thể trả" (bài "Cho một người").

Đọc thơ Anh Ngọc sau này, tôi thường liên tưởng tới câu ngạn ngữ của các cụ ta xưa "Gừng càng già càng cay". Không chỉ trong lĩnh vực thơ tình mà ngay trong mảng thơ về đề tài chiến tranh và quân đội, anh cũng có những bài có sức nặng vượt trội so với những bài vẫn thường được độc giả nhắc tới trước kia. Mà bài "Vị tướng già" tôi muốn nhắc tới đây có thể được xem là một ví dụ tiêu biểu.

Bài thơ như một bộ phim chân dung cận cảnh mà mở đầu là hình ảnh vị tướng già sừng sững đối mặt với nỗi cô đơn: "Những đối thủ của ông đã chết từ lâu/ Bạn chiến đấu cũng chẳng còn ai nữa/ Ông ngồi giữa thời gian vây bủa/ Nghe hoàng hôn chầm chậm xuống quanh mình".

Bức tranh thật uy nghi, bi tráng và xúc động. Có lên cao mới nghe tiếng gió hú gào. Có đến tuổi nào mới thấm thía nỗi cô đơn. Ở đây, vị tướng già đối mặt với nỗi cô đơn tứ bề: Đối thủ không còn, bạn bè không còn, thời gian sống đang ngày càng siết lại, không gian sống cũng chìm trong ắng lặng, như thể chỉ dành cho hồi tưởng…

Khó ai có thể tưởng tượng một thời oanh liệt đằng sau những động tác run rẩy, chậm chạp kia: "Bàn chân đi qua hai cuộc chiến tranh/ Giờ chậm rãi lần theo dấu gậy/ Đôi bàn tay nhăn nheo run rẩy/ Đã từng gieo khủng khiếp xuống đầu thù".

Nhưng ai được thụ hưởng lộc trời mà chẳng có lúc ở vào tình cảnh vậy? Hình ảnh của vị tướng già hiện lên trong cây lá đan xen thật đẹp, thật hồn hậu: "Trong góc vườn mùa thu/ Cây lá cũng như ông lặng lẽ/ Tám mươi tuổi ông lại như đứa trẻ/ Nở nụ cười ngơ ngác thơ ngây".

Đã đến lúc vị tướng già có thể thanh thản tổng kết cuộc đời mình. Nhưng kể ra, điều ấy có ý nghĩa gì, khi với ông: "Đời là cuộc hành trình khép kín/ Giữa hai đầu điểm đi và điểm đến/ Là một trời nhớ nhớ với quên quên".

Tạo hóa thật nhân từ, không bắt vị tướng ở tuổi gần đất xa trời phải nhớ rành rọt những việc mình đã làm, những chiến công mình đã lập nên. Anh hùng vào lúc thế nước lâm nguy thì chung tay góp sức, nào tính hơn thiệt. Khi trở về đời thường, thanh thản như trút bỏ một việc làm bất đắc dĩ, sống hòa mình cùng cỏ cây hoa lá. Cả hai khổ cuối là những lời ru dịu ngọt dành cho vị tướng một thời dạn dày trận mạc. Thật khó tìm đâu ra những lời lẽ đẹp đến vậy để ru quãng thời gian còn lại của con người từng một thời vang bóng này:

Những vui buồn chưa kịp gọi thành tên
Cõi nhân thế mây bay và gió thổi
Bầy ngựa chiến đã chân chồn, gối mỏi
Đi về miền cát bụi cuối trời xa. 

Ru giấc mơ của vị tướng già
Có tiếng khóc xen tiếng cười nức nở
Một chân ông đã bước vào lịch sử
Một chân còn vương vấn với mùa thu

Trước đây, xem phim "Tam Quốc diễn nghĩa" có vai Gia Cát Khổng Minh do nghệ sĩ Đường Quốc Cường đóng, tôi nhớ nhất là đoạn các nhà làm phim cho dàn cảnh Khổng Minh ngồi trên xe đẩy, cặp mắt lim dim, u hoài nhìn hình ảnh các trận chiến xảy ra trong đời lần lượt chạy qua trước mắt mình, khi hồn thiêng sắp về trời, trong một nền nhạc u trầm đầy tiếng hối thúc của buổi chiều hôm. Đấy là một cảnh rất xúc động và bi tráng, gợi trong người xem biết bao nỗi niềm nhân thế. Mấy đoạn thơ trên của Anh Ngọc cũng cho tôi một sự xúc động khôn tả. Đặc biệt, hai câu kết là hai câu rất giàu tính nhân văn.

Nhân đây, cũng xin nói thêm một chút. Trước đây, tôi từng được biết, đã có ý kiến chỉ trích Anh Ngọc, rằng ở bài thơ này, anh đã "nhập nhằng giữa chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa", rằng là có ý gợi nhớ tới câu "Nhất tướng công thành vạn cốt khô" trong thơ của Tào Tùng đời nhà Đường (Trung Quốc). Bởi chỉ có chiến tranh phi nghĩa, có cái chết oan uổng, vô ích của những người lính thì mới có chuyện "Ru giấc mơ của vị tướng già/ Có tiếng khóc xen tiếng cười nức nở". Tôi cho đó hoặc là một sự qui chụp, hoặc là sự hiểu văn chương một cách thô thiển. Cần hiểu rằng, với những vị tướng chân chính thì dù chiến công vang dội thế nào chăng nữa, bao giờ nhớ về những trận đánh vinh hiển trong quá khứ, họ cũng trạnh lòng xa xót cho những phận người đã không may ngã xuống. Thượng tướng Trần Văn Trà chẳng từng có lần nhận xét về Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Ông là vị Tổng tư lệnh rất biết quý từng giọt máu của chiến sĩ". Và hình ảnh thường thấy khi những vị tướng đi thăm các nghĩa trang liệt sĩ chẳng phải là hình ảnh họ cầm khăn thấm nước mắt đó sao?

Bài thơ của Anh Ngọc càng đọc càng thấm thía xúc động. Chúng ta từng được thưởng thức nhiều bài thơ hay về người lính, song rất hiếm được thưởng thức những bài thơ hay về các vị tướng. Bởi vậy, có được một bài thơ hay và xúc động như  "Vị tướng già" của Anh Ngọc quả là một điều may mắn.

11/4/2011


  Phạm Khải

Các bài mới:
     Người đàn ông Việt gảy đàn tranh ở Pháp (24/10)
     Thương những đời như lục bình trôi (23/10)
     Phải biết quảng gánh lo đi mà vui sống (23/10)
     Sẵn sàng đi đầu khi xung trận, bình tâm ẩn dật giữa đời thường (21/10)
     "Gã khùng" đi nhặt "kho báu" (20/10)
     Người nhạc sĩ trong thời khắc lịch sử (16/10)
     NSƯT Lê Hằng: Một thời để nhớ (15/10)
Các bài đã đăng:
     Viết về bạn văn để "soi gương" chính mình (22/04)
     Đạo diễn Lê Ngọc Linh: Bỏ phố lên rừng viết kịch bản phim (22/04)
     NSND Đàm Liên: Nỗi trống vắng ẩn sau sự bận rộn (22/04)
     Vẫn chỉ là hạ sách (22/04)
     Văng... mạng (22/04)
     Xung quanh việc xuất bản tuyển tập thư của John Lennon (20/04)
     Sắp công chiếu bộ phim gây "sốc" về Shakespeare? (20/04)

Các tin khác 

Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email:
Tiêu đề:  
Tắt bộ gõ Tự động Telex VNI VIQR
 

LIÊN HỆ CAND
Hà Nội:
04.39427285
TP HCM:
08.38241917
TIÊU ĐIỂM
"Nữ thủ lĩnh" của ba nhà hát
NSƯT Lê Hằng: Một thời để nhớ
"Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa"
Những linh thú đất Việt
Có một tình yêu ­không bao giờ “ly dị”
NSND Lê Huy Quang: Phải biết thua người khác!
Việc chung còn nhiều trăn trở
Nghệ sĩ Quốc Tuấn: Muốn được sống đúng mình
"Thuận tay" nhất khi viết về quê hương và đồng đội
Cuộc chơi có một không hai
Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Một lần suýt đáo tụng đình
Miên man trong ký ức...
Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu: 90 tuổi hãy còn "xanh lắm!"
Nhạc sĩ Lê Mây: Biển đã cho tôi phép màu
"Bích khói lửa": Chỉ mong...giải nghệ
Hào quang và bi kịch của một danh hài
NSƯT Quang Vinh: Không vỗ về quá khứ
Nghệ sĩ Hoàng Hải: Duyên nghề trắc trở
Oanh vàng vang bóng
NSƯT Hán Văn Tình: Người của làng cười
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
© 2004. Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An. All rights reserved.
® Liên hệ với Tòa soạn khi phát hành lại thông tin từ Website này. Ghi rõ nguồn "CAND.com.vn"