Thứ Sáu, 02/02/2007 - 8:00 AM

Thu Bồn - Huyền thoại giữa đời thường

Nhà thơ Thu Bồn với mẹ (Tam Kỳ, 1975).

Ai đấy nói với tôi tên thật của anh là Hà Đức Trọng, là bộ đội tập kết và đã bí mật trở lại miền Nam từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước với bí danh Thu Bồn. Câu chuyện ly kỳ về những người lính bí mật trở về quê hương bằng đường mòn Hồ Chí Minh khiến chúng tôi liên tưởng tới những Chê Ghêvara của Cuba bằng sự ngưỡng mộ kính phục.

Đấy là những ngày ác liệt của Hải Phòng năm 1966. Những tiết học cuối cùng của đời học sinh phổ thông chúng tôi thường diễn ra trong tiếng kẻng báo động máy bay và bị cắt ngang giữa chừng bởi phải chạy ào ra hầm trú ẩn ngay cạnh lớp. Giữa những ngày nóng bỏng như thế, giữa mùa hè cũng cực kỳ nóng bỏng, thầy giáo dạy văn chúng tôi - nhà thơ Thúc Hà lại còn nung đỏ chúng tôi bằng tác phẩm trường ca vừa được bổ sung vào giáo trình. Đó là trường ca “Bài ca chim chơ rao” của Thu Bồn.

Trường ca với cốt truyện bi hùng, hơi thơ hào sảng đã khơi cháy tâm hồn đầy thanh xuân của chúng tôi. Có một cái gì cứ hừng hực ở bên trong khi đọc vang: “Ơi Tây Nguyên khảm một trời sao lộng lẫy - Ta đi theo tiếng hú thiêng liêng…”. Cái tên Thu Bồn đã ám ảnh vào tôi đầu tiên như thế.

Ám ảnh ấy đã theo tôi vào giảng đường đại học. Chẳng biết bằng cách nào đó, tôi có tập thơ “Tre xanh” của Thu Bồn. Khi ấy qua bè bạn yêu thơ, tôi đã nghe phong phanh những câu truyện như huyền thoại mang tên dòng sông quê hương Quảng Nam này.

Ai đấy nói với tôi tên thật của anh là Hà Đức Trọng, là bộ đội tập kết và đã bí mật trở lại miền Nam từ đầu thập kỷ 60 với bí danh Thu Bồn. Câu chuyện ly kỳ về những người lính bí mật trở về quê hương bằng đường mòn Hồ Chí Minh khiến chúng tôi liên tưởng tới những Chê Ghêvara của Cuba bằng sự ngưỡng mộ kính phục.

Tôi đã phỏng thơ bài “Tre xanh” thành ca khúc và phổ nguyên bài thơ “Tình yêu” của Thu Bồn: “Dòng sông chảy xuôi không bao giờ mỏi/ Trọn đời dành cho bờ bãi phù sa / Tình yêu ta như dòng sông ấy / Khi gặp thác ghềnh tung bọt trắng hát ca”. Thu Bồn đã thành huyền thoại như thế.

Tôi gặp Thu Bồn lần đầu tiên ở Trại sáng tác Quân khu V năm 1976. Khi ấy, anh vừa hoàn thành trường ca “Ba dan khát”. Con người thực Thu Bồn và con người huyền thoại trong tưởng tượng của tôi không khác là bao. Anh vạm vỡ như một dũng sĩ Tây Nguyên với mái tóc bồng bềnh mây ngàn. Đứng bên anh có cảm giác đang đứng bên một quả núi sừng sững. Thực mà hư. Hư mà thực. Cảm giác ấy cứ còn mãi trong tôi ngay cả khi chúng tôi trở thành bạn vong niên, bạn “nhậu” của nhau.

Từ trái sang: Các văn nghệ sĩ: Lý Bạch Huệ, Thu Bồn, Doãn Hoàng Giang, Ngô Thảo, Nguyễn Xuân Khánh (1998).

Khó có thể đoán định Thu Bồn làm việc vào lúc nào mà các trường ca, tiểu thuyết cứ ấn hành liên tục. Lúc nào “nhậu” anh đều có mặt. Chỗ nào “nhậu” cũng không vắng mặt anh. Trong số các nhà thơ Việt Nam, Thu Bồn thuộc những người “dấn thân” nhiều nhất. Các chiến trường thuộc bán đảo Đông Dương ở đâu thiếu dấu chân Thu Bồn? Anh cứ sống mạnh mẽ, viết khỏe khoắn những cảm xúc tuôn trào của mình.

Thu Bồn yêu cũng mạnh mẽ như sống. Lại biết bao huyền thoại về những cuộc tình ngắn dài và lâm ly của chàng Tác Dăng thi sĩ. Thu Bồn yêu như thở. Nếu không yêu có nghĩa là ngưng thở, là chết. Nhưng nếu không sống và yêu như thế thì làm sao có một Thu Bồn lực lưỡng, vập vạp như thế trong thế hệ thơ chống Mỹ hào sảng và ngang tàng.

Sau hết mọi dâng hiến, mọi vinh quang, Thu Bồn dừng lại sống cùng vợ là nghệ sĩ Lý Bạch Huệ ở bên suối Lồ Ô thuộc tỉnh Bình Dương, như điểm dừng của cuộc “Xuyên Trường Sơn cuộc đời”.

Ở tuổi ngoại lục tuần khi rời quân ngũ Thu Bồn đã quyết “đội đá vá trời” tạo nên tư gia độc đáo của mình. Kiến trúc tư gia suối Lồ Ô đã được dựng lên từ sự nhẫn nại của người lính Thu Bồn sau khi cởi áo lính. Kiến trúc hình thành như bút pháp trường ca Thu Bồn. Kiến trúc xong hai vợ chồng lại nhọc nhằn bươn trải qua đủ nghề để mưu sinh trong đoạn cuối cuộc đời.

Thu Bồn chỉ là chính Thu Bồn như “huyền thoại giữa đời thường” khi quyết liệt, liều lĩnh và phớt đời. Chất thi sĩ ngấm trong máu không cho anh thành công trong thương trường.

Anh đã đột nhiên bị đột qụy bởi cơn huyết áp cao trong chính chuyến đi trở lại Trường Sơn giữa năm 2001 và bạo bệnh đã không cho anh cầm cự được lâu. Giữa tháng 6/2003, Thu Bồn đã vĩnh biệt thế gian sau cơn đau dữ dằn ở tuổi 68 của một thi sĩ cầm tinh con Hợi (Thu Bồn sinh năm Ất Hợi 1935)

Nguyễn Thuỵ Kha
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
© 2004. Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An. All rights reserved.
® Liên hệ với Tòa soạn khi phát hành lại thông tin từ Website này. Ghi rõ nguồn "CAND.com.vn"