Thứ Ba, 18/04/2006 - 3:30 PM

Sức sống của những giai điệu ca ngợi Đảng

Suốt 55 năm qua, đã có bao nhiêu giai điệu ca ngợi Đảng. Các tác giả đã dùng những bút pháp khác nhau, những ý tứ khác nhau từ nhiều phía, nhiều góc cạnh để bày tỏ lòng biết ơn Đảng của dân tộc ta.

Do hoàn cảnh đặc biệt của nước  ta sau Cách mạng tháng Tám, Đảng ta phải rút vào hoạt động bí mật, bởi vậy, những giai điệu ca ngợi Đảng chỉ bắt đầu xuất hiện giữa đời sống từ năm 1951, khi ấy Đảng mang tên là Đảng Lao động Việt Nam. Giai điệu chào mừng sự ra đời này là của nhạc sĩ Đỗ Minh. Là một trong những thành viên của ban nhạc họ Đỗ  do nhạc sĩ Đỗ Nhuận phụ trách, nhạc sĩ Đỗ Minh đã viết rất nhanh bài ngợi ca này và từ đó cho đến nay, bài hát “Ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam” (nay đổi thành “Bài ca Đảng Cộng sản Việt Nam”) đã trở thành bài Đảng ca trang trọng bên bài Quốc tế ca. Năm nay, bài Đảng ca đã tròn 55 tuổi.

Ngoài ca khúc của Đỗ Minh chúng ta còn có “Đảng đã cho ta một mùa xuân” (Phạm Tuyên), “Đường đi có nắng mặt trời” (Hồng Đăng), “Việt Nam ơi mùa xuân đến rồi” (Huy Du), “Màu cờ tôi yêu” (Phạm Tuyên), “Hát về lá cờ Đảng” (Văn An), “Tiếng hát một ngọn cờ” (Hồng Đăng) và “Lá cờ Đảng” (Trần Hoàn). Một mảng giai điệu nữa cũng rất chân thành nói lên tình yêu của nhạc sĩ đối với Đảng như “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” (Phạm Tuyên), “Đảng là cuộc sống đời tôi” (Nguyễn Đức Toàn), “Tôi ơn Đảng trọn đời” (Thanh Phúc), “Lời ca từ trái tim” (Văn An). Và nhiều nhiều nữa những giai điệu ngợi ca những người cộng sản chân chính hy sinh thân mình vì cách mạng.

Những giai điệu ngợi ca Đảng thật phong phú. Nhưng với tôi, ấn tượng có lẽ vẫn là những giai điệu của ba nhạc sĩ: Đỗ Minh, Phạm Tuyên và Tô Vũ.

1. Sẽ chẳng bao giờ lịch sử lặp lại sự ngẫu nhiên một lần nữa, bởi vì không ai ngờ rằng bài Đảng ca hôm nay vẫn âm vang thành kính, lại được sáng tác bởi một nhạc sĩ mặc áo lính, nhưng trước đó là một tu sĩ công giáo đã bao năm chìm đắm trong thánh ca - nhạc sĩ Đỗ Minh. Để có được bản chính ca với giai điệu chân thành và tràn đầy vẻ đẹp ấy, Đỗ Minh đã từng ở trong “Đội Sao Vàng” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận những năm đầu kháng chiến. Cùng tham gia biểu diễn và có điều kiện học hỏi bậc đàn anh này, Đỗ Minh từ một nhạc công chơi đàn banjo và organ đã trở thành nhạc sĩ với bản chính ca đi vào lịch sử dân tộc.

Bài hát với lời ca gần như rút ra từ Cương lĩnh chính trị của Đảng, song nhờ giai điệu đẹp và cảm xúc chân thành của tác giả nên nó đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi khắp chiến khu, rồi sau chống Pháp là cả miền Bắc và sau 30/4/1975 thì lan rộng ra khắp cả nước. Cho đến nay, mặc dù có thêm rất nhiều bài hát ca ngợi Đảng song bài của nhạc sĩ Đỗ Minh vẫn được coi như bài Đảng ca sáng giá nhất. Sức sống của bài ca dường như vẫn mãi thanh xuân.

Bài “Ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam” từ khi ra đời đã liên tục được hát trong những dịp kỷ niệm thành lập Đảng. Song cũng không rõ từ khi nào thì có ba từ trong bài được thay đổi một cách khéo léo thành hai từ khác mà chính tác giả của nó cũng không biết ai là người làm cái việc “đồng tác giả” bí mật ấy. Đó là sự thay đổi từ câu: “Khối kết đoàn công nông và trí thức” thành câu: “Khối kết đoàn công nông bền vững”.

Cho đến sau Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) bài “Ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam” được đổi đầu đề thành “Ca ngợi Đảng Cộng sản Việt Nam”. Giai điệu và lời ca vẫn giữ nguyên. Chỉ có chỗ nào nào có từ “lao động” thì đổi thành “cộng sản” cho phù hợp với tên mới. Nếu chỉ là từ không thì dễ nhưng đây là nốt nhạc. Vì vậy, khi hát “lao động” thành “cộng sản” rõ ràng sự phát âm không được chuẩn xác vì hai dấu của hai từ khác nhau. Nhưng một lần nữa, sức cuốn hút của giai điệu đã khiến cho người hát và người nghe đều không cảm thấy gợn.

Điều đáng mừng hơn là từ 1995, trong đợt kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Đảng, trên Truyền hình Việt Nam ngày nào cũng mở đầu chương trình bằng bài Đảng ca và cụm từ “khối kết đoàn công nông và trí thức” đã được trả lại như khi bài hát được viết ra chứ không phải là “khối kết đoàn công nông bền vững” hát suốt trong một thời gian quá lâu.

Đỗ Minh sống giản dị (tại một chân đồi thuộc thành phố Thái Nguyên). Thỉnh thoảng về Hội Nhạc sĩ, anh mừng vui, cười nói thật hồn hậu, rồi lại trở về với những giờ giảng dạy âm nhạc (dù đã về hưu) trên miền Trung du. Đỗ Minh lặng lẽ là vậy song sự tồn tại độc đáo của ông với sức sống của bài Đảng ca vẫn đặt ông ở một vị trí xứng đáng trong đại gia đình nhạc sĩ Việt Nam.--PageBreak--

2. Phạm Tuyên sinh đúng vào mùa xuân  thành lập Đảng. Không biết có phải bởi cái duyên trùng phùng ấy không, mà mặc dù tâm hồn đầy trắc ẩn, anh đã có những bài ngợi ca Đảng ở ngay tuổi thanh xuân của mình. Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, bài “Đảng đã cho ta một mùa xuân” của Phạm Tuyên đã thấm vào đời sống thật trong trẻo và hồn hậu. Ở đâu, bất kỳ chỗ nào, người ta cũng có thể hát lên như đồng dao: “Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng/ Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi/ Đảng đã đem về mùa xuân cho nước non…”. Chỉ dựa vào câu nói: “Chủ nghĩa Cộng sản là thiên đường của loài người, mùa xuân của nhân loại”, nhạc sĩ đã cảm hứng ra một giai điệu ấm áp, trữ tình với tiết nhịp valse. Nghe “Đảng đã cho ta một mùa xuân” có gì đó khiến ta hay nhớ tới “Khát vọng mùa xuân” của W.A.Mozart, cái xao xuyến giữa mùa xuân của đất trời đã hòa đồng vào cái ngây ngất của thời đại lúc ấy, cái nhìn mơ mộng về tương lai.

Không chỉ có “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, Phạm Tuyên còn có một khúc tự sự đầy suy tư từ những câu thơ của L. Aragon. Bài “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” khởi từ mô típ quãng bốn giống như bài “Quốc tế ca” đã trải dài một niềm tin: “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng/ Trước như tuổi thơ tôi nào biết được/ Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước/ Tôi chỉ biết là đêm tối mênh mông…”. Cùng với “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, bài “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” dù đều thành kính một cặp phạm trù: cho và nhận nhưng lại cảm hứng từ hai phía trữ tình và anh hùng ca khiến cho hai bài ngợi ca như một cặp bài trùng trong sáng tác của Phạm Tuyên về Đảng.

Mùa đông 1979, tại TP HCM, nhạc sĩ Phạm Tuyên nhận được bài lục bát ca ngợi Đảng của nhà thơ - nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền. Có lẽ vì thật thấm thía lá cờ Đảng như thấm máu hy sinh bao thế hệ, Phạm Tuyên lại tìm thấy một rung cảm sâu sắc ở nhịp lục bát kia. Bởi vậy nhịp 3/8 ở bài “Màu cờ tôi yêu” không có dấu vết của tiết nhịp vallse mà như một nửa của nhịp lục bát, cứ nhân lên, nhân lên: “Hồng như màu của bình minh/ Đỏ như màu máu của mình tim ơi/ Búa liềm vàng rực giữa trời/ Là niềm hy vọng chói ngời tim ta…”. Thế là thế lưỡng nghi ngày nào tìm được tới nhất nguyên.

3. Từ lời thề trước anh linh của người anh là nhạc sĩ Hoàng Quý - lời thề suốt đời dâng hiến mình vì nền âm nhạc dân tộc Việt Nam, từ sự thấm nhuần đường lối văn hóa: “Khoa học - dân tộc - đại chúng” của Đảng, nhạc sĩ Hoàng Phú của nhóm “Đồng Vọng” trong cao trào cách mạng đã mê mải hành trình dọc trường kỳ kháng chiến với khát vọng trên, mê mải đến quên cả cạo râu, cắt tóc để hình hài mình trở thành một người giống như ông Tô Vũ trong điển tích “Tô Vũ chăn dê” của Trung Quốc. Và chính vì sự giống nhau ấy mà nhà thơ Xuân Diệu đã gọi nhạc sĩ Hoàng Phú là “ông Tô Vũ”. Và cái bút danh Tô Vũ đã ra đời từ đó.

Đi trong kháng chiến, bên cạnh những “Tạ từ”, “Tiếng chuông thiên thu” và đặc biệt là “Em đến thăm anh một chiều mưa” nổi tiếng, Tô Vũ bắt đầu hòa dân ca vào thánh ca ở “Nhớ ơn Hồ Chí Minh”, rồi hướng hẳn sáng tác của mình theo sự khai thác những chủ đề dân ca như “Cấy chiêm”. Song với bút pháp này, phải đến khúc ngợi ca Đảng rất Việt Nam mang tên “Như hoa hướng dương”, Tô Vũ mới thực sự đạt được đỉnh cao.

“Như hoa hướng dương” được Tô Vũ triển khai âm nhạc từ bài thơ của Hải Như. Chọn khúc thức ở thể 3 đoạn: A - B - A’ và tiến hành giai điệu theo lối quy nạp, Tô Vũ đã vẽ ra một bức tranh âm thanh vừa chân thành, vừa trân trọng nói nỗi lòng dân tộc mình trước Đảng tiền phong của mình, bằng tiếng nói thuần Việt không hề pha tạp.

Nghệ thuật phổ thơ của Tô Vũ từ bài ca dao của Quách Vinh trong “Cấy chiêm” đến bài thơ của Hải Như trong “Như hoa hướng dương” là một bước nhảy khá xa khiến “Như hoa hướng dương” trở thành một bài ca đi cùng năm tháng. Thật sung sướng khi ngợi ca mà không gượng gạo, thành ý chứ không sống sượng. Đó là điều thành công lớn nhất ở “Như hoa hướng dương”. Từ một tứ hình tượng hóa rất khái quát, Tô Vũ đã giãi bày sự khái quát đó về những thi ảnh giản dị như “một bát cơm gạo trắng”, “một cái bắt tay giữa nam nữ”, “một ngôi chùa cổ”, thật là nhất mực tinh tế, nhất mực cảm thức

Nguyễn Thuỵ Kha
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
© 2004. Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An. All rights reserved.
® Liên hệ với Tòa soạn khi phát hành lại thông tin từ Website này. Ghi rõ nguồn "CAND.com.vn"